Thủ đoạn tinh vi của đường dây buôn lậu 50 tấn caffeine: Doanh nghiệp “ma”, hóa đơn khống và 60 tài khoản trung gian
Theo hồ sơ điều tra, đường dây buôn lậu caffeine xuyên quốc gia do Trần Phi Hùng (cựu Trưởng khoa Dược của Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương) điều hành không chỉ gây chú ý bởi quy mô hàng chục tấn nguyên liệu, mà còn bởi phương thức ngụy trang và rửa dòng tiền được tổ chức theo mô hình khép kín, có tính toán kỹ lưỡng.
Điểm đáng chú ý đầu tiên nằm ở cách đối tượng sử dụng vỏ bọc chuyên môn để tạo ra lớp che chắn gần như hoàn hảo cho hoạt động buôn lậu. Với học hàm Tiến sĩ Dược và nhiều năm công tác trong ngành y dược, Hùng có đủ kiến thức chuyên ngành để hiểu rõ quy trình nhập khẩu, phân phối và quản lý nguyên liệu hóa dược. Điều này giúp đường dây dễ dàng hòa lẫn vào hoạt động kinh doanh dược phẩm thông thường mà không tạo ra nhiều nghi vấn ban đầu.
Lập công ty bình phong, lợi dụng vỏ bọc chuyên môn thực hiện hành vi phạm tội
Thay vì trực tiếp đứng tên toàn bộ hoạt động, Hùng chỉ đạo người thân và các đối tượng liên quan thành lập nhiều doanh nghiệp bình phong. Các công ty này hoạt động như mắt xích trung gian, có chức năng ký kết hợp đồng, xuất hóa đơn và tạo dòng chứng từ hợp pháp trên giấy tờ.
Theo Dân Việt, cơ quan điều tra xác định Trần Phi Hùng đã lợi dụng việc Công ty Khôi Nguyên và Công ty Hóa Dược - Dược phẩm 1 được cấp phép nhập khẩu caffeine phục vụ mục đích y tế để lập các hợp đồng mua bán với Công ty Vinh Hoàng và Công ty Vạn Phúc do con trai và cháu trai ông Hùng đứng tên. Mục đích là “rút” caffeine ra ngoài thị trường.
Tiếp đó, hai công ty này xóa dấu vết bằng cách xuất khống cho các khách hàng ảo. Điểm tinh vi là trên hóa đơn hoàn toàn bỏ trống thông tin chi tiết, khiến các cơ quan quản lý không thể truy vết đường đi thực tế của hóa chất. Khi tiền bán lậu caffeine từ Lào được tuồn về Việt Nam, dòng tiền này sẽ được “bơm ngược” vào tài khoản của Vinh Hoàng và Vạn Phúc. Việc này giúp dòng tiền khớp hoàn hảo với các hợp đồng khống ban đầu, biến tiền lậu thành lợi nhuận kinh doanh hợp pháp trước khi được đem ra chia chác.
Caffeine được trà trộn trong hàng hóa thông thường. Ảnh: Báo Thanh niên
Với số lượng caffeine đã được “rút” ra trước đó, các đối tượng sẽ chuyển về kho hàng của Công ty TNHH T&T VINA ở Nghệ An. Tại kho bãi này, các đối tượng trực tiếp xé bỏ bao bì gốc của nhà sản xuất, sang chiết và đóng gói hóa chất thành các bao xi măng hoặc thức ăn chăn nuôi nhằm thay đổi hoàn toàn đặc điểm nhận dạng hàng hóa. Tại cửa khẩu, T&T VINA lợi dụng sơ hở trong khâu kiểm hóa hải quan để trà trộn, cất giấu các bao caffeine ngụy trang này vào sâu trong các lô hàng bách hóa thông thường đã khai báo hải quan nhằm mở tờ khai thông quan xuất khẩu.
Qua điều tra khám xét, lực lượng thu giữ 19 tấn caffeine sau thông quan không khai báo hải quan, được trà trộn trong hàng hóa thông thường của Công ty T&T VINA đang chuẩn bị vận chuyển qua Lào đi Myanmar. Mở rộng điều tra, đến nay, lực lượng chức năng đã thu giữ 50,7 tấn caffeine.
Điều phối dòng tiền lậu, rửa tiền
Một điểm khác cho thấy tính chuyên nghiệp của đường dây là cơ chế xử lý tài chính. Theo điều tra, nguồn tiền thu được từ việc tiêu thụ caffeine tại Lào không chuyển trực tiếp về tài khoản của đối tượng cầm đầu mà được chia nhỏ, luân chuyển qua khoảng 60 tài khoản ngân hàng khác nhau đứng tên người thân hoặc cá nhân liên quan.
Đây được xem là thủ đoạn phổ biến trong các hoạt động rửa tiền nhằm cắt đứt mối liên hệ trực tiếp giữa dòng tiền và hành vi phạm pháp. Việc dòng tiền đi qua nhiều lớp tài khoản gây nhiễu cho công tác xác minh, đồng thời tạo cảm giác đây chỉ là các giao dịch dân sự hoặc kinh doanh thông thường.
Lực lượng chức năng làm việc tại hiện trường. Ảnh: Báo Thanh niên
Sau quá trình luân chuyển, số tiền này tiếp tục được hợp thức hóa bằng cách khớp với các hợp đồng mua bán khống của hệ thống công ty bình phong. Khi tiền được ghi nhận dưới danh nghĩa thanh toán thương mại, lợi nhuận bất hợp pháp dần biến thành doanh thu có hồ sơ kế toán, hóa đơn và chứng từ đi kèm.
Theo giới chuyên môn, điểm nguy hiểm của mô hình này không chỉ nằm ở hoạt động buôn lậu nguyên liệu hóa dược, mà còn ở việc đối tượng bị cáo buộc đã tận dụng hiểu biết chuyên ngành để thiết kế một hệ thống che giấu tài chính tinh vi, khiến hoạt động phạm pháp có hình thức, vỏ bọc gần giống vận hành doanh nghiệp hợp pháp.
Vụ án cũng cho thấy xu hướng tội phạm kinh tế ngày càng sử dụng mô hình doanh nghiệp “ma”, giao dịch điện tử và mạng lưới tài khoản trung gian để xóa dấu vết dòng tiền, gây nhiều thách thức cho công tác điều tra tài chính và phòng chống rửa tiền hiện nay.

