Vì sao bằng giỏi vẫn chật vật trước cửa nhà tuyển dụng?

| Sống

Sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc vẫn khó tìm việc phù hợp, đặt ra câu hỏi về giá trị bằng cấp, chất lượng đào tạo và khả năng đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp.

Tấm bằng giỏi, xuất sắc từng được xem là lợi thế khi sinh viên bước vào thị trường lao động. Tuy nhiên, thành tích học tập cao không đồng nghĩa người học nhanh chóng tìm được công việc phù hợp với chuyên môn, thu nhập và kỳ vọng nghề nghiệp trong bối cảnh hiện nay.

Nghịch lý bằng giỏi vẫn khó tìm việc

Theo ông Trần Anh Tuấn, chuyên gia Dự báo nhân lực, Phó Chủ tịch Hội Giáo dục nghề nghiệp TP.HCM, cần phân biệt giữa sinh viên chưa tìm được việc làm, có việc nhưng làm trái ngành và làm đúng ngành nhưng chưa đáp ứng yêu cầu công việc.

Ba tình trạng này có thể xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau, từ khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu tuyển dụng đến cơ cấu ngành nghề, năng lực thực tế của người học và yêu cầu riêng của doanh nghiệp.

Ông Tuấn phân tích, chương trình đào tạo có thể cung cấp kiến thức lý thuyết nhưng người lao động còn phải biết vận dụng vào công việc cụ thể. Một sinh viên nắm vững kiến thức quản trị, đạt điểm cao ở các môn học vẫn có thể lúng túng khi phân tích dữ liệu kinh doanh, lập kế hoạch bán hàng, thuyết trình trước khách hàng hoặc xử lý tình huống phát sinh tại doanh nghiệp.

 - Ảnh 1.

Sinh viên Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật TP.HCM.

“Thị trường lao động không phải lúc nào cũng tạo ra đủ vị trí việc làm có chất lượng tương ứng với số lượng người tốt nghiệp ở từng ngành. Một ngành có thể thu hút đông người học nhưng nhu cầu tuyển dụng tăng chậm; trong khi một số ngành kỹ thuật, công nghệ hoặc ngành nghề chuyên biệt lại thiếu nhân lực đáp ứng yêu cầu”, ông Tuấn nói.

Bên cạnh sự chênh lệch cung - cầu, việc sinh viên chưa tìm được công việc ưng ý cũng có thể liên quan đến kinh nghiệm, kỳ vọng thu nhập hoặc địa điểm làm việc. Vì vậy, không thể chỉ dựa vào một số trường hợp sinh viên giỏi thất nghiệp để kết luận chất lượng đào tạo của một trường, nhưng cũng không nên bỏ qua những dấu hiệu cho thấy người học chưa đạt năng lực đầu ra như cam kết.

Ở góc độ giáo dục, bà Tô Thụy Diễm Quyên, chuyên gia giáo dục sáng tạo, CEO Innedu cho rằng, vấn đề còn nằm ở khả năng phản ánh năng lực của bằng cấp. Khi điểm số không giúp nhà tuyển dụng nhận diện rõ sự khác biệt giữa các ứng viên, doanh nghiệp có xu hướng tìm thêm căn cứ đánh giá như kinh nghiệm, sản phẩm thực tế và khả năng xử lý công việc.

“Khoảng cách giữa cách nhà trường đánh giá và yêu cầu thực tế của doanh nghiệp khiến điểm số chưa phản ánh đầy đủ năng lực của sinh viên. Điểm số thường đo khả năng ghi nhớ và làm bài, trong khi doanh nghiệp cần người có thể giải quyết công việc thực tế, biết phối hợp với đồng nghiệp và chủ động tự học”, bà phân tích.

Bên cạnh đó, theo bà Quyên, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo và tự động hóa cũng làm thay đổi nhiều vị trí đầu vào, khiến người mới tốt nghiệp phải cạnh tranh trong một thị trường lao động đang biến động.

Bằng giỏi chưa đủ để đáp ứng công việc

Theo TS Thái Doãn Thanh, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công Thương TP.HCM (HUIT), điểm số vẫn có ý nghĩa trong việc phản ánh quá trình học tập nhưng nhà tuyển dụng còn quan tâm đến khả năng vận dụng kiến thức, giải quyết vấn đề, giao tiếp, làm việc nhóm, sử dụng công nghệ và tinh thần trách nhiệm. Đây là những năng lực cần được hình thành và kiểm chứng trong quá trình đào tạo, thay vì chỉ chờ đến khi sinh viên đi làm mới bộc lộ khoảng trống.

“Từ góc độ đào tạo đại học ứng dụng, tôi cho rằng ngoài kiến thức và điểm số, điều doanh nghiệp muốn biết là sinh viên có thể đảm nhận nhiệm vụ nào, học thêm nhanh đến đâu và có đáng tin cậy khi cùng làm việc hay không. Tuy nhiên, yêu cầu cụ thể phải gắn với từng nghề, từng vị trí và cấp độ đầu vào; không thể áp một bộ tiêu chuẩn giống nhau cho tất cả sinh viên mới tốt nghiệp”, TS Thái Doãn Thanh nói.

 - Ảnh 2.

Lễ tốt nghiệp tại Trường Đại học Công Thương TP.HCM.

TS Thái Doãn Thanh cho rằng, năng lực vận dụng kiến thức cần đi cùng khả năng giao tiếp, phối hợp, sử dụng công cụ số và thái độ nghề nghiệp. Sinh viên cần biết tìm kiếm thông tin, lựa chọn phương án, thực hiện và kiểm tra kết quả; đồng thời có trách nhiệm với phần việc được giao, tiếp nhận phản hồi và chủ động bổ sung kiến thức còn thiếu.

Vì vậy, sinh viên không nên chỉ tập trung đạt điểm cao mà cần tích lũy những minh chứng cụ thể về năng lực ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Đó có thể là đồ án, đề tài nghiên cứu, sản phẩm chuyên môn, dự án nhóm hoặc kết quả thực tập.

Khi ứng tuyển, việc trình bày rõ vấn đề đã giải quyết, phần việc cá nhân đảm nhận và kết quả đạt được sẽ giúp nhà tuyển dụng hiểu rõ hơn khả năng của ứng viên.

Bà Tô Thụy Diễm Quyên cho rằng cần bảo đảm điểm số phản ánh đúng mức độ đạt chuẩn của người học, đồng thời tăng cường các hình thức đánh giá gắn với thực tiễn.

“Điểm cao không xấu nếu sinh viên thực sự giỏi lên. Nhưng khi điểm tăng nhanh, đồng loạt mà không có bằng chứng năng lực đi kèm, đó là lời cảnh báo về cách đánh giá.

Cần tránh mặc định tỷ lệ sinh viên giỏi cao là biểu hiện của bệnh thành tích. Điều quan trọng là đối chiếu kết quả học tập với chuẩn đầu ra, sản phẩm thực hành, năng lực giải quyết vấn đề và phản hồi từ doanh nghiệp để xác định thành tích ấy có phản ánh đúng năng lực thực tế hay không”, bà Quyên cho biết.

Không thể đòi hỏi sinh viên tự thích nghi

Trong bối cảnh thị trường lao động thay đổi nhanh, sinh viên cần chủ động học hỏi và tích lũy kinh nghiệm. Tuy nhiên, yêu cầu người trẻ tự thích nghi không thể thay thế trách nhiệm của nhà trường trong bảo đảm chất lượng đào tạo, cũng như trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc xây dựng điều kiện tiếp nhận và hướng dẫn nhân sự mới.

Ông Tuấn cho rằng: “ Doanh nghiệp cần tham gia xác định nhu cầu kỹ năng, cung cấp môi trường thực tập phù hợp, phản hồi về chất lượng sinh viên và tạo điều kiện để người mới tốt nghiệp chuyển tiếp vào công việc. Sinh viên phải chủ động học tập, rèn luyện kỹ năng, tích lũy trải nghiệm và chịu trách nhiệm về quá trình phát triển nghề nghiệp của mình”.

Từ góc độ nhà trường, theo TS Thái Doãn Thanh, sự kết nối với doanh nghiệp cần đi vào hoạt động đào tạo cụ thể, thay vì chỉ dừng ở ký kết hợp tác hay tổ chức ngày hội việc làm. Doanh nghiệp có thể tham gia góp ý chương trình, đưa ra bài toán thực tế, tiếp nhận sinh viên thực tập và phản hồi về sản phẩm học tập. Qua đó, người học có cơ hội làm quen với môi trường nghề nghiệp, còn nhà trường có thêm căn cứ để điều chỉnh chương trình.

TS Thanh cũng nhấn mạnh trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc tiếp nhận người mới tốt nghiệp: “Tôi cũng muốn nhấn mạnh trách nhiệm từ doanh nghiệp. Vị trí dành cho người mới tốt nghiệp cần có mô tả nhiệm vụ và tiêu chí hợp lý, có người hướng dẫn và thời gian làm quen. Việc đòi hỏi ứng viên đầu vào phải làm ngay toàn bộ công việc như một nhân sự giàu kinh nghiệm sẽ thu hẹp cơ hội phát triển nguồn nhân lực”.

Bên cạnh hoạt động kết nối tuyển dụng, việc theo dõi kết quả sau tốt nghiệp cũng cần được chú trọng. Theo TS Thanh, dữ liệu nên phân biệt tỷ lệ có việc làm với mức độ phù hợp chuyên môn, thời gian tìm việc, khả năng duy trì việc làm và phản hồi của nhà tuyển dụng. Những thông tin này giúp nhà trường đánh giá thực chất hơn hiệu quả đào tạo và nhận diện những nội dung cần cải thiện.

Về phía sinh viên, chủ động học tập, xây dựng hồ sơ năng lực và linh hoạt trong lựa chọn công việc đầu tiên là điều cần thiết. Tuy nhiên, sự linh hoạt không có nghĩa phải chấp nhận mọi điều kiện làm việc, còn thành tích học tập tốt cũng không nên bị xem nhẹ chỉ vì người học chưa tìm được việc ngay sau khi tốt nghiệp.

Bằng giỏi có thể mở ra cơ hội, nhưng không phải lời bảo đảm cho một công việc tốt. Để thu hẹp khoảng cách giữa tấm bằng và năng lực nghề nghiệp, cần sự phối hợp giữa người học, nhà trường và doanh nghiệp, trong đó thành tích học tập phải đi cùng năng lực thực tế và cơ hội phát triển nghề nghiệp phù hợp.

Theo Như Thúy

Cùng chuyên mục
XEM