Lưu ý quan trọng từ cơ quan Thuế đến toàn bộ người lao động về thuế TNCN, bỏ qua là lỡ quyền lợi

| Kinh tế vĩ mô

Thuế TP Hà Nội mới đây đã có bài viết tổng hợp một số nội dung mới về thu nhập từ tiền lương, tiền công theo Nghị định số 253/2026/NĐ-CP để người nộp thuế và các tổ chức, cá nhân nắm bắt và thực hiện.

 - Ảnh 1.

Nghị định số 253/2026/NĐ-CP đã quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân. Nghị định có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, trong đó quy định cụ thể nhiều nội dung liên quan đến thu nhập từ tiền lương, tiền công.

Sửa đổi, bổ sung quy định về tiền thù lao từ cung cấp dịch vụ của cá nhân không đăng ký kinh doanh, không đăng ký thuế.

Tại điểm c khoản 2 Điều 8 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định: Tiền thù lao nhận được từ cung cấp dịch vụ của cá nhân không đăng ký kinh doanh, không đăng ký thuế cho hoạt động kinh doanh, kể cả có hay không có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề được xác định là thu nhập từ tiền lương, tiền công.

Sửa đổi, bổ sung quy định về thời hạn đăng ký người phụ thuộc.

Tại điểm a khoản 2 Điều 48 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định thời hạn đăng ký người phụ thuộc cùng hồ sơ chứng minh là trước ngày 31/12 của năm tính thuế và thực hiện ổn định cho các năm sau nếu không thay đổi.

Điều chỉnh mức thu nhập làm căn cứ tạm khấu trừ 10% đối với cá nhân không ký hợp đồng lao động hoặc hợp đồng lao động dưới 3 tháng

Nghị định 253/2026/NĐ-CP đã điều chỉnh tăng giới hạn mức chi trả thu nhập để làm căn cứ tạm khấu trừ thuế từ 2 triệu đồng/lần lên mức 5 triệu đồng/lần.

Cụ thể, tại khoản 2 Điều 50 Nghị định này quy định: Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng (bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động) mà mức chi trả thu nhập từ 5 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế, khai và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân.

Ngoài ra, tại Điều này còn có quy định trường hợp mức chi trả thu nhập dưới 5 triệu đồng/lần thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% nếu cá nhân có yêu cầu.

Điều chỉnh ngưỡng thu nhập vãng lai không phải quyết toán

Tại điểm b khoản 1Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định cá nhân có thêm thu nhập ở nơi khác mà phần thu nhập này bình quân tháng trong năm không quá 15 triệu đồng (mức trước đây là 10 triệu đồng) đã được tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập thực hiện tạm khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% trên thu nhập quy định tại khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP thì cá nhân không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.

Ngoài ra, tại Nghị định 253/2026/NĐ-CP cũng quy định trường hợp cá nhân lựa chọn quyết toán thuế trực tiếp với cơ quan thuế thì hệ thống thông tin quản lý thuế sẽ hỗ trợ tổng hợp tất cả các nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công phát sinh trong năm tính thuế và được trừ số thuế đã được tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế thu nhập cá nhân trong năm tính thuế.

Sửa đổi, bổ sung quy định về không tính vào thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công đối với khoản trợ cấp thôi việc, mất việc

Căn cứ quy định tại điểm c khoản 2 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025, tại điểm h khoản 3 Điều 8 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN đối với khoản trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, tại điểm h khoản 3 Điều 8 Nghị định 253/2026/NĐ-CP cũng đã quy định trường hợp tổ chức, doanh nghiệp có quy định cụ thể tại quy chế tài chính hoặc quy chế nội bộ hoặc hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động về mức trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm cao hơn mức quy định của pháp luật thì phần chi trả thực tế vượt mức này cũng không tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động. Qua đó, đảm bảo người nộp thuế nhận được sự hỗ trợ lớn hơn, thể hiện sự chia sẻ giữa Nhà nước và người lao động trong trường hợp thôi việc, mất việc làm.

 - Ảnh 2.

Ảnh minh hoạ

Bổ sung quy định cụ thể về mức tiền ăn giữa ca, ăn trưa không tính vào thu nhập từ tiền lương, tiền công (Điều 8)

Tại điểm g, khoản 2, Điều 8 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định về thu nhập từ tiền lương tiền công như sau:

"2. Tiền thù lao, các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền mà cá nhân nhận được từ tổ chức, cá nhân, bao gồm cả người sử dụng lao động chỉ trả dưới mọi hình thức:

g) Khoản tiền ăn giữa ca, ăn trưa do người sử dụng lao động chi cho người lao động vượt quá 1,2 triệu đồng/người/tháng . Trường hợp người sử dụng lao động tổ chức bữa ăn giữa ca, ăn trưa cho người lao động dưới các hình thức như trực tiếp nấu ăn, mua suất ăn, cấp phiếu ăn thì không tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân."

Theo đó, Nghị định 253/2026/NĐ-CP đã quy định khoản tiền ăn giữa ca, ăn trưa do người sử dụng lao động chi cho người lao động đối với trường hợp doanh nghiệp chi trả bằng tiền, nâng mức tiền ăn giữa ca, ăn trưa không tính vào thu nhập chịu thuế thuế TNCN từ 730.000 đồng lên 1,2 triệu đồng/người/tháng. Trường hợp công ty tổ chức bữa ăn giữa ca, ăn trưa cho người lao động dưới các hình thức như trực tiếp nấu ăn, mua suất ăn, cấp phiếu ăn thì không tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân.

Như vậy, trường hợp công ty không tổ chức bữa ăn mà chi trả bằng tiền thì mức chi tiền ăn ca từ 1,2 triệu đồng/người trên/tháng trở xuống được miễn thuế TNCN. Phần chi vượt quá 1,2 triệu đồng/người/tháng thì tính vào thu nhập chịu thuế TNCN. Để đảm bảo không vướng mắc trong quá trình thực hiện, tại điểm b khoản 1 Điều 69 của Nghị định cũng đã quy định về tiền ăn giữa ca, tiền ăn trưa quy định tại điểm g khoản 2 Điều 8 được áp dụng từ ngày 01/7/ 2026.

7. Sửa đổi, bổ sung quy định liên quan đến khoản lợi ích về nhà ở do người sử dụng lao động xây cho người lao động (Điều 8)

Để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà ở, nhà lưu trú công nhân, cung cấp chỗ ở ổn định, lâu dài cho người lao động theo chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tại điểm h khoản 2 Điều 8 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định

"Trường hợp người lao động được hưởng lợi ích từ nhà ở do người sử dụng lao động xây cho người lao động đang làm việc tại đơn vị thì không tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân của người lao động đối với khoản lợi ích này, bao gồm cả tiền điện, nước và các dịch vụ kèm theo (nếu có).

Trường hợp tiền thuê nhà ở, điện, nước và các dịch vụ kèm theo (nếu có) do người sử dụng lao động trả thay thì tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân theo số thực tế trả thay nhưng không vượt quá 15% tổng thu nhập chịu thuế của người lao động phát sinh tại đơn vị chưa bao gồm tiền thuê nhà, điện nước và dịch vụ kèm theo (nếu có);"

Theo đó, so với quy định tại các VBQPPL về thuế TNCN trước đây, tại Nghị định 253/2026/NĐ-CP không giới hạn phạm vi của quy định này là chỉ áp dụng đối với nhà ở do người sử dụng lao động xây ở địa bàn khu kinh tế, khu công nghiệp, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn.

Sửa đổi, bổ sung quy định về các khoản bảo hiểm được trừ và nâng ngưỡng được trừ lên 03 triệu đồng/tháng/người đối với bảo hiểm hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ (Điều 46)

Tại điểm a khoản 2 Điều 46 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định người nộp thuế được trừ các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc, khoản đóng góp bảo hiểm xã hội tự nguyện theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024, khoản đóng góp bảo hiểm y tế tự nguyện theo Luật Bảo hiểm y tế 2008, khoản đóng góp tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ khi xác định thu nhập tính thuế.

So với quy định trước đây, nội dung này có chỉnh sửa một số câu chữ để đảm bảo đồng bộ, thống nhất với quy định của pháp luật chuyên ngành được sửa đổi, bổ sung gần đây.

Đồng thời, tại điểm này cũng đã quy định mức đóng góp tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024,mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ được trừ ra khỏi thu nhập khi xác định thu nhập tính thuế tổng tối đa không quá 03 triệu đồng/tháng cho các hình thức tham gia bảo hiểm này, bao gồm cả số tiền do người sử dụng lao động đóng cho người lao động và cả số tiền do người lao động tự đóng (nếu có).

Như vậy, so với trước đây mức ngưỡng được trừ đã được nâng từ 01 triệu đồng/tháng/người lên 03 triệu đồng/tháng/người.

Sửa đổi, bổ sung quy định về các khoản thưởng từ cuộc thi, sự kiện do người sử dụng lao động tổ chức cho người lao động.

Tại điểm i khoản 2 Điều 8 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định khoản thưởng từ cuộc thi, sự kiện do người sử dụng lao động tổ chức cho người lao động là khoản thu nhập được tính vào thu nhập từ tiền lương, tiền công của người lao động.

Bổ sung khoản "bồi dưỡng bằng hiện vật" vào nhóm phụ cấp, trợ cấp không tính vào thu nhập chịu thuế

Tại điểm d khoản 3 Điều 8 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quyđịnh các khoản phụ cấp độc hại, nguy hiểm và bồi dưỡng bằng hiện vật đối với ngành, nghề hoặc công việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm được loại trừ khỏi thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công.

Bổ sung quy định không tính vào thu nhập chịu thuế khoản phụ cấp, trợ cấp, sinh hoạt phí của thành viên cơ quan Việt Nam ở nước ngoài và thân nhân đi theo

Căn cứ quy định tại điểm c khoản 2 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025, tại điểm e khoản 3 Điều 8 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định không tính vào thu nhập chịu thuế đối với các khoản phụ cấp, trợ cấp, sinh hoạt phí do cơ quan Việt Nam ở nước ngoài chi trả cho thành viên cơ quan Việt Nam ở nước ngoài, phu nhân/phu quân và con đi theo.

Theo Hoàng Nguyễn

Cùng chuyên mục
XEM