Lãi suất thả nổi lên 14-16%/năm: Chuyên gia chỉ rõ thời điểm cần tính chuyện bán tài sản
Chuyên gia nhấn mạnh khi khoản trả nợ gốc và lãi chiếm 60-70% thu nhập mà gia đình đã cắt giảm tối đa chi tiêu nhưng vẫn không đủ khả năng chi trả, người vay cần tính đến phương án đàm phán với ngân hàng hoặc cơ cấu lại tài sản.
ThS Nguyễn Thị Hồng Vân - Cố vấn tài chính cá nhân tại FIDT
Tính đến hết tháng 9/2026, lãi suất cho vay bình quân tính trên các khoản vay mới và dư nợ cũ tăng lên 8,4-10,9%/năm, tăng 0,2 điểm phần trăm so với tháng trước (theo Ngân hàng Nhà nước).
Báo cáo của Bộ Xây dựng cho biết lãi suất cho vay bất động sản phổ biến ở mức 12 - 14%/năm, có trường hợp lãi suất thả nổi lên tới 15 - 16%/năm.
Khi lãi suất tăng, nếu không chủ động đánh giá đúng sức khỏe tài chính và chuẩn bị phương án ứng phó, người vay có thể rơi vào áp lực trả nợ vượt quá khả năng chi trả.
Chia sẻ tại Podcast Tài chính cá nhân của VnExpress với chủ đề “Khoản vay đến kỳ lãi thả nổi, cần làm gì để không bị ngộp?”, ThS Nguyễn Thị Hồng Vân - Cố vấn tài chính cá nhân tại FIDT cho biết trong giai đoạn 2024-2025, mặt bằng lãi suất ở mức rất thấp. Nhiều gói vay có lãi suất ban đầu chỉ khoảng 4%/năm, cố định trong 2-3 năm.
Ví dụ, với khoản vay 3 tỷ đồng trong 30 năm, lãi suất ban đầu khoảng 4%/năm, người vay cần thanh toán cả gốc và lãi khoảng 18 triệu đồng mỗi tháng. Tuy nhiên, nếu lãi suất tăng lên khoảng 12%/năm, số tiền phải trả mỗi tháng có thể lên tới khoảng 38 triệu đồng. Mức tăng từ 18 triệu lên 38 triệu đồng là áp lực rất lớn đối với người vay.
Ngoài ra, những người sở hữu tài sản có tính thanh khoản tốt, chẳng hạn có sẵn tiền gửi tiết kiệm hoặc nhiều tài sản tạo ra dòng tiền thụ động, có thể chịu được tỷ lệ vay cao hơn. Đây cũng là những tiêu chí cần xem xét khi đánh giá sức khỏe tài chính của người vay. Chuyên gia cũng nêu 3 nhóm đối tượng với các khuyến nghị hành động cho từng nhóm:
Nhóm có nợ gốc và lãi dưới 30% thu nhập
Nếu tổng số tiền trả nợ gốc và lãi mỗi tháng chiếm dưới 30% thu nhập, chuyên gia cho rằng đây vẫn là ngưỡng tương đối hợp lý.
Chuyên gia Hồng Vân khuyến nghị, người vay nên ưu tiên tích lũy vào các kênh thu nhập cố định (fixed income) để chuẩn bị nguồn tiền cho giai đoạn lãi suất thả nổi. Khi có một khoản tiền mặt, cần tính toán chi phí cơ hội giữa việc trả nợ trước hạn và giữ tiền để đầu tư.
Chẳng hạn, nếu trả nợ trước hạn vào năm thứ ba, người vay có thể phải chịu phí phạt khoảng 2-3%. Trong khi đó, nếu giữ khoản tiền này để gửi tiết kiệm tại một số ngân hàng với lãi suất khoảng 9,5% hoặc 11,2%/năm, người vay cần so sánh lợi ích từ tiền lãi với chi phí trả nợ trước hạn, bao gồm cả phần lãi vay và phí phạt.
Nếu không có kênh đầu tư nào mang lại lợi ích đủ bù đắp chi phí lãi vay, người vay nên cân nhắc phương án trả nợ trước hạn để giảm áp lực tài chính.
Nhóm nợ gốc và lãi chiếm 30-50% thu nhập
Khi tỷ lệ này tăng lên 30-50%, chuyên gia khuyến nghị người vay cần rà soát lại các khoản vay và xây dựng phương án xử lý.
Chuyên gia khuyến nghị gia đình duy trì các khoản chi thiết yếu như tiền học của con, tiền ăn uống ở mức hợp lý; đồng thời rà soát chi phí không cần thiết để giảm áp lực tài chính.
Với bảo hiểm, nếu hợp đồng đã qua thời điểm đóng phí linh hoạt, người tham gia có thể cân nhắc giảm mức phí nhưng giữ nguyên quyền lợi, tùy điều kiện hợp đồng. Chuyên gia không khuyến khích chấm dứt hợp đồng vì khi tài chính đang mong manh, một biến cố bất ngờ có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến kế hoạch của cả gia đình.
Nếu ô tô ít được sử dụng, gia đình có thể cân nhắc bán xe để giảm các chi phí duy trì như xăng, đăng kiểm, bảo hiểm, vốn có thể lên tới 5-7 triệu đồng mỗi tháng, đồng thời lấy tiền trả bớt khoản vay lãi suất cao. Một phương án khác là cho thuê căn hộ đang ở và chuyển sang nơi có chi phí thấp hơn để giảm tiền nhà, tăng nguồn tiền mặt.
Với các khoản chi cho giải trí, hưởng thụ hoặc hỗ trợ bố mẹ, gia đình nên trao đổi thẳng thắn về tình hình tài chính để cân nhắc tạm hoãn hoặc điều chỉnh mức hỗ trợ trong một thời gian.
Nhóm nợ gốc và lãi chiếm 60-70% thu nhập
Đối với nhóm này, đặc biệt khi khoản trả nợ đã ảnh hưởng đến chi phí sinh hoạt thiết yếu, đây là mức báo động. Người vay cần làm việc với ngân hàng để trình bày tình trạng tài chính và tìm phương án xử lý.
Chuyên gia cho biết thông thường, ngân hàng có thể xem xét giảm lãi suất. Chẳng hạn, nếu khoản vay đang chịu lãi suất thả nổi khoảng 14%/năm, người vay có thể đề nghị giảm xuống khoảng 12%/năm.
Khi lãi suất tăng lên khoảng 13-14%/năm, nếu gia đình đã cắt giảm tối đa các khoản chi tiêu nhưng tổng thu nhập vẫn không đủ để trả nợ, chuyên gia cho biết đó là thời điểm cần tính đến phương án cơ cấu lại tài sản.
Có thể chia tài sản thành một số nhóm. Đầu tiên là tài sản phòng thủ, gồm tiền mặt và tiền gửi tiết kiệm. Đây là nhóm có tính thanh khoản cao.
Tiếp theo là tài sản cân bằng, gồm căn hộ, nhà phố tại khu vực đô thị và trái phiếu. Nhóm này nhìn chung có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt tốt hơn những tài sản tăng trưởng có tính đầu cơ cao, dù mức thanh khoản thực tế vẫn phụ thuộc vào từng tài sản và điều kiện thị trường.
Nhóm thứ ba là tài sản tăng trưởng, gồm chứng chỉ quỹ, cổ phiếu và đất nền ở khu vực vùng ven. Cuối cùng là tài sản tăng trưởng mạnh, chẳng hạn cổ phiếu đầu tư trực tiếp và bất động sản nông nghiệp ở những khu vực xa. Đây là nhóm có thể khó thanh khoản hơn, đặc biệt khi thị trường gặp khó khăn.
“Với những bất động sản ở xa, đất nền hoặc đất nông nghiệp, việc tìm người mua có thể rất khó ngay cả khi chủ sở hữu giảm giá. Đối với cổ phiếu, nhà đầu tư có thể bán được nhưng phải chấp nhận mức lỗ lớn. Hiện nay, nhiều mã cổ phiếu đã giảm 30-40%. Vì vậy, thanh khoản không đơn thuần là tài sản có bán được hay không, mà còn là khi bán và chuyển đổi thành tiền mặt, chủ sở hữu phải chấp nhận mất bao nhiêu giá trị. Đây là yếu tố cần tính đến khi sắp xếp thứ tự ưu tiên cơ cấu tài sản”, bà Vân nhấn mạnh.


