Giới thiết kế thở phào: Cú hích từ việc siết chặt bản quyền sẽ xóa sổ những team "ăn xổi", thiết kế phá giá 100 - 200.000/sản phẩm

| Sống

Chỉ vài tháng trước đây, trong các hội nhóm thiết kế, quay dựng freelance (tự do) người ta có thể dễ dàng tìm thấy những bài đăng, bình luận phản hồi kiểu: Trọn gói thiết kế logo quán ăn, trà sữa 99k (99.000 đồng), banner/poster khuyến mãi, chương trình 150k (150.000 đồng), video clip social, short video giá rẻ nhận file trong ngày.

Đa phần ở mức giá thấp dẫn đến việc nhiều người mặc định thiết kế là công việc chỉ cần ngồi trên máy tính, cầm điện thoại vài giờ đồng hồ là xong. Chính những khách hàng cũng không hình dung được vì sao một chiếc logo hay video quảng cáo lại có thể được báo giá tiền triệu, thậm chí vài chục triệu đồng.

Nghề sáng tạo cần được trả về “đúng giá”

Khi câu chuyện bản quyền được siết chặt hơn, những báo giá 100.000 - 200.000 VNĐ sẽ không thể nào tồn tại được nữa. Đằng sau sự “tăng giá” này không chỉ là chuyện designer muốn hét giá mà là cả một ngành công nghiệp sáng tạo đang phải trả lại chi phí thật cho những thứ từng bị xem nhẹ suốt nhiều năm: Tiền bản quyền, công cụ sáng tạo và chất xám, thời gian nghiên cứu.

“Khách hàng quen với giá rẻ vì họ không nhìn thấy phần chìm phía sau sản phẩm. Một file thiết kế bây giờ có thể dùng font mất phí, stock image, plugin, AI, nhạc nền có license… Nếu làm đúng luật thì chi phí đầu vào đã khác hoàn toàn”, Đức Lê - designer freelancer có 5 năm kinh nghiệm, ngụ TP. HCM - chia sẻ.

Các phần mềm, công cụ sáng tạo quen mặt.

Đó cũng là điều khiến nhiều production house bắt đầu thay đổi cách báo giá. Chị P.M.P (36 tuổi, Phó Giám đốc một công ty agency media tại TP.HCM) nhận định, giai đoạn trước, nhiều đơn vị cạnh tranh bằng cách cắt những phần khó nhìn thấy nhất, tranh thủ sử dụng nguồn tài nguyên miễn phí để giảm tải chi phí sản xuất.

“Ngày trước khách hỏi vì sao video 5 triệu mà chỗ khác làm 2 triệu. Nhưng bây giờ nếu một video bị đánh bản quyền nhạc, hoặc hình ảnh AI dính tranh chấp thương mại, rủi ro thuộc về cả agency lẫn nhãn hàng. Không ai còn dám làm kiểu lụi như trước nữa”, chị cho biết.

Sự thay đổi này diễn ra cùng lúc với việc các nền tảng lớn tăng cường kiểm soát nội dung. Các hệ thống quét tự động trên mạng xã hội, nền tảng video hay kho tài nguyên số ngày càng dễ phát hiện nhạc, hình ảnh hoặc template vi phạm và “đánh gậy” kênh đã đăng tải nội dung đó chỉ trong “một nốt nhạc”.

Từ sau công văn thông báo về việc siết chặt bản quyền và hàng loạt tin tức bắt giữ các cá nhân, doanh nghiệp vi phạm liên quan đến bản quyền, quyền tác giả, nhiều chủ doanh nghiệp, nhãn hàng cũng đã bắt đầu chú ý hơn tới rủi ro pháp lý và hình ảnh thương hiệu của họ.

Ca sĩ Quang Lập, ông Nguyễn Hải Bình vừa bị bắt giữ vì vi phạm liên quan đến bản quyền.

Thị trường sáng tạo Việt Nam từng tồn tại nghịch lý, khách hàng hay yêu cầu sản phẩm “độc quyền”, “đẳng cấp”, công chúng nhìn vào là ấn tượng nhớ ngay nhưng lại mặc định giá thiết kế phải thật rẻ vì không thật sự coi trọng các sản phẩm mang tính sáng tạo này.

“Trong nhiều năm, ngành sáng tạo bị kéo vào cuộc đua phá giá. Khi giá xuống quá thấp, người làm chỉ còn cách tăng số lượng, giảm thời gian đầu tư hoặc dùng tài nguyên không hợp pháp để tồn tại. Việc siết bản quyền thực chất đang buộc thị trường quay về giá trị thật của lao động sáng tạo”, chị P.M.P nói thêm.

Ở góc độ tích cực, nhiều người trong ngành cho rằng đây là bước chuyển cần thiết để nghề sáng tạo được nhìn nhận đúng giá trị. Khi khách hàng buộc phải trả tiền cho bản quyền và chất xám, designer cũng có cơ hội thoát khỏi vòng xoáy làm xuyên đêm nhưng thu nhập rẻ.

Dần quen với văn hóa trả phí cho nội dung bản quyền

Công tâm mà nói, quá trình siết chặt bản quyền cũng đang tạo ra cú sốc tâm lý với thị trường, đặc biệt là khách hàng của doanh nghiệp nhỏ vốn quen với mức giá thấp trong nhiều năm. Không ít người vẫn đặt câu hỏi vì sao một logo có thể lên tới vài triệu, hay một video social media ngắn lại có giá hàng chục triệu đồng.

Nhưng theo giới chuyên môn, điều người mua đang trả tiền không chỉ là “một file thiết kế”, mà là toàn bộ hệ sinh thái phía sau. Từ ý tưởng, nhân sự, thiết bị, phần mềm, bản quyền và cả trách nhiệm pháp lý nếu xảy ra tranh chấp.

“Gần đây, mình có update (cập nhật - PV) lại báo giá và gửi đi cho một vài bên đối tác thiết kế, thầu xây dựng quen biết. Mình cũng giải thích cho họ hiểu vì sao có mức giá mới này, việc họ phải trả thêm 20-30% là để đảm bảo tính chính thống khi giao file thiết kế cho chủ nhà. Rồi sau này, chủ nhà hay chính mình đăng tải hình ảnh hoặc dựng thành những video quảng cáo cũng sẽ tự tin hơn mà không phải lo sợ vấn đề gì liên quan”, Huỳnh Nhung (34 tuổi - kiến trúc sư) chia sẻ.

Các đơn vị thiết kế nhà ở, cảnh quang dần cập nhật bảng giá mới trong năm 2026.

Ở góc nhìn doanh nghiệp, nhiều năm làm việc trong ngành quản lý Hành chính - Nhân sự, chị Thu Thảo (34 tuổi, TP. HCM) chia sẻ: “Công ty mình chủ động cho nhân viên sử dụng phần mềm bản quyền từ nhiều năm trước. Nhiều hãng cũng đưa ra những chính sách mua bản quyền theo dạng phân cấp tùy vào nhu cầu, vị trí làm việc của nhân viên hoặc cho phép một gói phần mềm được dùng chung trên nhiều thiết bị. Việc siết chặt này thật chất không ảnh hưởng gì đến guồng vận hành chung của công ty.” Chị cũng cho biết thêm bảng giá các dịch vụ của đội sale (kinh doanh) cũng không thay đổi mấy.

“Mình tin những khách hàng chân chính, tôn trọng sản phẩm đã dày công tạo ra thì khi quảng bá chúng, họ cũng sẽ không ngại ngần chuyện rút hầu bao. Quan trọng là bạn phải làm sao để khách hàng thấy đồng tiền họ bỏ ra là xứng đáng.” - chị Thu Thảo thẳng thắn chia sẻ.

Nguyễn Thúc Khoa - Chuyên gia tư vấn chiến lược về sở hữu trí tuệ và M&A doanh nghiệp.

Trong bài viết “Đòn giáng với loạt trang giải trí quen thuộc mang tên Công điện 38: Vì sao Việt Nam buộc phải làm chặt vấn đề bản quyền đến thế?” của tác giả Đồng An, ông Nguyễn Thúc Khoa - Chuyên gia tư vấn chiến lược về sở hữu trí tuệ và M&A doanh nghiệp, đã phát biểu: “Không có nền công nghiệp sáng tạo nào lớn mạnh được khi người dùng không có thói quen trả tiền cho nội dung. Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ những quốc gia có công nghiệp văn hóa mạnh nhất thế giới, đều đi qua giai đoạn siết chặt bản quyền mạnh tay trước khi ngành nội dung của họ cất cánh. Đây là con đường bắt buộc. Câu hỏi chỉ là đi nhanh hay đi chậm.”

Trên thực tế, thói quen trả phí cho nội dung số cũng đang dần phổ biến hơn ở một bộ phận người trẻ Việt Nam. Phạm Dung (32 tuổi, NVVP ngụ TP. HCM) cho biết đã tập thói quen cân đối chi tiêu để có thể duy trì các dịch vụ giải trí có bản quyền suốt vài năm qua.

Nên bình thường hóa việc trả phí để nghe nhạc, xem phim.

“Mình mua gói xem Netflix, trả tiền cho Youtube premium, Spotify 2-3 năm nay rồi. Tuy phải ngốn chi phí này vào lương hàng tháng nhưng bớt uống trà sữa, bớt một buổi đi cà phê, tụ tập bạn bè hay nhận thêm đôi ba công việc là đã có thể chi trả những khoản này.” Theo Dung, việc trả tiền cho nội dung giúp cô có trải nghiệm tốt hơn, tận hưởng trọn vẹn hơn giây phút thư giãn mà không bị cắt ngang bởi quảng cáo hay giới hạn thời lượng xem của video.

Khi ngành sáng tạo bước vào thời kỳ minh bạch hơn về bản quyền, những báo giá thời 100.000 - 200.000 đồng có lẽ sẽ dần trở thành “chuyện xưa rồi diễm” của một giai đoạn làm nghề thiếu chuẩn hóa và cạnh tranh chủ yếu bằng giá rẻ.

Minh Ngọc

Cùng chuyên mục
XEM