Vì sao lãi suất ở Việt Nam cao nhất nhì ASEAN? Chuyên gia chỉ ra 5 nguyên nhân cốt lõi

| Kinh doanh

Theo chuyên gia, phía sau khoảng cách lãi suất giữa Việt Nam và các nước trong khu vực là 5 "nút thắt" lớn, từ áp lực lạm phát, nợ xấu gần 1 triệu tỷ đồng đến sự lệ thuộc vào tín dụng ngân hàng.

Vì sao lãi suất ở Việt Nam cao nhất nhì ASEAN? Chuyên gia chỉ ra 5 nguyên nhân cốt lõi- Ảnh 1.

TS. Phạm Xuân Hoè

5 nguyên nhân khiến lãi suất Việt Nam cao hơn khu vực

Tại Talkshow: 1 Triệu Tỷ Đồng Nợ Xấu Ngân Hàng: Vì Sao Lãi Suất Cho Vay Khó Giảm Sâu? của VTC đưa ra vấn đề, trong khi lãi suất tại Thái Lan dao động 2-3,5%/năm, Malaysia 2,5-4%/năm, Indonesia 4,5-6,5%/năm, Philippines 5-7%/năm, Singapore 1,4-3%/năm và Trung Quốc khoảng 2-4%/năm, thì tại Việt Nam phổ biến ở mức 5,5-8,5%/năm, thậm chí một số ngân hàng đã vượt 9%.

Chia sẻ về vấn đề trên, TS. Phạm Xuân Hoè, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước cho biết so với mặt bằng ASEAN, lãi suất tại Việt Nam hiện thuộc nhóm cao nhất khu vực.

Theo chuyên gia, có 5 nguyên nhân chính khiến mặt bằng lãi suất tại Việt Nam khó giảm về mức tương đương các nước trong khu vực.

Thứ nhất là áp lực lạm phát. Việt Nam vẫn theo đuổi mục tiêu lạm phát 4-4,5%, trong khi áp lực lạm phát chi phí đẩy, đặc biệt từ giá dầu, vẫn hiện hữu. Giá năng lượng tăng kéo theo chi phí vận tải, logistics và sản xuất leo thang, đẩy mặt bằng giá chung đi lên. CPI quý I đã tăng, trong khi nhiều chi phí sinh hoạt cũng leo thang, như giá vé xe limousine Hưng Yên - Hà Nội tăng khoảng 27%, từ 155.000 đồng lên 195.000 đồng/lượt.

Trong bối cảnh đó, để duy trì lãi suất thực dương và giữ chân dòng tiền, các ngân hàng buộc phải duy trì lãi suất huy động ở mức 6-7% hoặc cao hơn khi kỳ vọng lạm phát quanh 4,5%.

Thứ hai, nền kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng. Đến hết quý I, dư nợ tín dụng đã vượt 19 triệu tỷ đồng, tăng 3,15%, trong khi tổng tiền gửi chỉ khoảng 16 triệu tỷ đồng. Quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp mới khoảng 1,3 triệu tỷ đồng, trong đó gần 48% thuộc ngân hàng và khoảng 38% thuộc lĩnh vực bất động sản.

Bên cạnh đó, hệ thống ngân hàng đang đối mặt với sự mất cân đối kỳ hạn khi dư nợ trung và dài hạn chiếm khoảng 47% tổng dư nợ, nhưng tiền gửi từ 1 năm trở lên chỉ chiếm khoảng 20% nguồn vốn huy động. Sự lệch pha này làm gia tăng rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất, khiến mặt bằng lãi suất luôn chịu áp lực duy trì ở mức cao.

Chuyên gia dẫn chứng, trong giai đoạn tháng 2-3, khi giá dầu thế giới tăng và thị trường tài chính quốc tế biến động, lãi suất liên ngân hàng có thời điểm vọt lên tới 17% trước khi hạ nhiệt nhờ các biện pháp hỗ trợ thanh khoản của Ngân hàng Nhà nước.

Vì sao lãi suất ở Việt Nam cao nhất nhì ASEAN? Chuyên gia chỉ ra 5 nguyên nhân cốt lõi- Ảnh 2.

Lãi suất cho vay một số ngân hàng trong tháng 6/2026. Nguồn: Ngân hàng số Timo.

Thứ ba là rủi ro hệ thống ngân hàng, đặc biệt là bài toán nợ xấu. Hiện quy mô nợ xấu vẫn vào khoảng 1 triệu tỷ đồng, buộc các ngân hàng phải tăng trích lập dự phòng, qua đó làm tăng chi phí vốn và hạn chế khả năng giảm lãi suất cho vay.

Theo chuyên gia, chỉ cần xuất hiện biến động trên thị trường chứng khoán, trái phiếu, vàng hoặc tài chính quốc tế, dòng tiền có thể dịch chuyển mạnh, khiến các ngân hàng phải tăng lãi suất huy động để giữ chân người gửi tiền. Đây là lý do lãi suất tại Việt Nam nhạy cảm hơn nhiều quốc gia khác và thường phản ứng rất nhanh trước các cú sốc thị trường.

Thứ tư là áp lực tỷ giá. Cơ quan điều hành luôn phải cân đối giữa lãi suất VND và tỷ giá USD/VND. Nếu chênh lệch lãi suất không đủ hấp dẫn, áp lực lên tỷ giá sẽ gia tăng. Vì vậy, việc duy trì lãi suất VND ở mức tương đối hấp dẫn vẫn là yêu cầu cần thiết để ổn định đồng nội tệ.

Cuối cùng là đặc điểm tiết kiệm của người Việt. Dù tỷ lệ tiết kiệm khoảng 30%, nhưng khoảng 80% tiền gửi hiện có kỳ hạn dưới 1 năm do người dân muốn linh hoạt trước biến động lãi suất. Trong khi đó, ngân hàng lại phải cung ứng lượng lớn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.

Đến hết quý I/2026, tổng tiền gửi mới khoảng 16 triệu tỷ đồng nhưng dư nợ tín dụng đã vượt 19 triệu tỷ đồng. Theo tính toán của chuyên gia, mức lệch pha giữa nguồn vốn huy động và sử dụng vốn của hệ thống ngân hàng từng lên tới khoảng 5 triệu tỷ đồng vào tháng 9/2025. Việc liên tục sử dụng vốn ngắn hạn để tài trợ cho các khoản vay trung và dài hạn làm gia tăng chi phí vốn và là một trong những nguyên nhân khiến lãi suất khó giảm mạnh trong ngắn hạn.

Vì vậy, theo chuyên gia, muốn kéo giảm mặt bằng lãi suất một cách bền vững, cần giải quyết đồng thời những vấn đề mang tính cốt lõi nêu trên.

Lãi suất có thể giảm không?

Vì sao lãi suất ở Việt Nam cao nhất nhì ASEAN? Chuyên gia chỉ ra 5 nguyên nhân cốt lõi- Ảnh 3.

Đánh giá về khả năng giảm lãi suất trong quý 2 và quý 3, chuyên gia cho rằng việc Ngân hàng Nhà nước hỗ trợ thanh khoản là cần thiết nhưng chưa đủ để kéo mặt bằng lãi suất giảm nhanh.

Theo ông, cơ chế hỗ trợ thanh khoản chủ yếu thông qua tái cấp vốn trên cơ sở các tài sản đủ điều kiện như trái phiếu Chính phủ hoặc các giấy tờ có giá được chấp nhận. Tuy nhiên, không phải ngân hàng nào cũng nắm giữ đủ các tài sản này, đặc biệt là nhóm ngân hàng quy mô nhỏ.

"Những ngân hàng nhỏ thường không có nhiều nguồn vốn nhàn rỗi để đầu tư vào trái phiếu Chính phủ. Vì vậy, dù có cơ chế hỗ trợ thanh khoản, áp lực huy động vốn trên thị trường vẫn còn rất lớn", ông phân tích.

Về triển vọng lãi suất thời gian tới, chuyên gia cho rằng dư địa giảm phụ thuộc nhiều vào diễn biến kinh tế và địa chính trị toàn cầu. Tuy nhiên, theo chuyên gia, thay vì kỳ vọng lãi suất giảm mạnh, mục tiêu phù hợp hơn là đưa lãi suất về mức hợp lý với điều kiện của nền kinh tế Việt Nam.

"Tôi không dùng từ hạ lãi suất mà dùng từ đưa lãi suất về mức hợp lý. Chúng ta chưa thể kỳ vọng lãi suất thấp ngang mặt bằng ASEAN khi cấu trúc thị trường tài chính vẫn phụ thuộc nặng vào ngân hàng, rủi ro hệ thống còn cao và nguồn vốn huy động chủ yếu là ngắn hạn trong khi nhu cầu cho vay trung, dài hạn rất lớn", ông nhấn mạnh.

Theo ông, mức lãi suất hợp lý phải được đặt trong bối cảnh cụ thể của nền kinh tế, khi hệ thống ngân hàng vẫn chịu áp lực thanh khoản, doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính cao và môi trường kinh tế toàn cầu còn nhiều bất ổn.

Ông dẫn dự báo của IMF và World Bank cho thấy tăng trưởng kinh tế thế giới có xu hướng giảm khoảng 0,15-0,2 điểm phần trăm, trong khi áp lực lạm phát vẫn hiện hữu. Với một nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam, các cú sốc bên ngoài, đặc biệt là lạm phát nhập khẩu và biến động giá năng lượng, sẽ tiếp tục tạo sức ép lên mặt bằng lãi suất trong nước.

Đối với người dân có tiền nhàn rỗi, trong bối cảnh kinh tế còn nhiều bất ổn, điều quan trọng nhất theo chuyên gia là ưu tiên bảo toàn tài sản trước khi nghĩ đến tối đa hóa lợi nhuận.

Ngân hàng nhà nước Khu vực 1 cho biết từ quý IV/2025 đến nay, thị trường tiền tệ đối mặt nhiều khó khăn khi thanh khoản có thời điểm căng thẳng, lãi suất huy động và cho vay duy trì ở mức cao, ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và người dân.

Từ ngày 10/4/2026, cơ quan điều hành đã yêu cầu các tổ chức tín dụng phải giảm tối thiểu 0,5 điểm %/năm lãi suất tiền gửi kỳ hạn từ 6 tháng trở lên so với mức áp dụng giai đoạn 20/3-31/3/2026, đồng thời giảm lãi suất huy động niêm yết và lãi suất cho vay. Tuy nhiên qua giám sát vẫn còn một số bất cập trong hoạt động huy động vốn.

Do đó, cơ quan này yêu cầu các ngân hàng không để xảy ra tình trạng giảm lãi suất mang tính hình thức hoặc áp dụng các cơ chế làm phát sinh mặt bằng lãi suất thực tế cao hơn mức công bố. Nghiêm túc thực hiện các quy định của pháp luật về huy động ngoại tệ và cho vay cầm cố bằng ngoại tệ.

Cơ quan điều hành yêu cầu các ngân hàng không làm gia tăng mặt bằng lãi suất huy động trên thị trường, không tạo cạnh tranh lãi suất thiếu lành mạnh giữa các tổ chức tín dụng. Đồng thời rà soát, kiểm soát chặt chẽ các trường hợp áp dụng lãi suất thỏa thuận, lãi suất cộng thêm theo các chương trình ưu đãi, đảm bảo đúng quy định.


Phan Trang

Cùng chuyên mục
XEM