Vì sao GDP/người chỉ đứng thứ 122 thế giới nhưng Việt Nam có thể đuổi kịp Nhật Bản, Hàn Quốc, trở thành cường quốc?
Việt Nam có thể đuổi kịp Nhật Bản, Hàn Quốc, trở thành cường quốc bằng cách nào?
Theo dữ liệu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), năm 2025, GDP của Việt Nam đạt khoảng 494 tỷ USD, nằm trong nhóm 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Trong khi đó, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 4.829 USD, xếp thứ 122 thế giới.
Theo Kết luận Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia, vay và trả nợ công, cùng đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030, mục tiêu đến năm 2030 là đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô GDP lớn nhất thế giới, đồng thời nâng cao vị thế và uy tín quốc tế.
GS. Trần Văn Thọ - Giáo sư danh dự Đại học Waseda, Tokyo, Nhật Bản, cho rằng để Việt Nam tiến tới mục tiêu lớn vào năm 2030, đổi mới sáng tạo sẽ giữ vai trò ngày càng quan trọng. Muốn đổi mới sáng tạo hiệu quả phải có quy mô đầu tư lớn, và muốn đầu tư lớn thì doanh nghiệp phải đủ mạnh.
Theo ông, ở các quốc gia đi sau trong thời đại hội nhập, doanh nghiệp có thể tận dụng ngoại lực để phát triển nhanh, nhưng đồng thời phải từng bước củng cố nội lực nhằm thay thế dần sự phụ thuộc vào các nguồn lực bên ngoài. Từ góc độ này, yếu tố cốt lõi cần phân tích là nguồn lực kinh doanh, bao gồm vốn, công nghệ và năng lực kinh doanh. Doanh nghiệp có thể khai thác nguồn lực kinh doanh từ nước ngoài để tăng tốc phát triển, nhưng về lâu dài cần tích lũy nguồn lực của chính mình để phát triển tự chủ và hợp tác bình đẳng với các doanh nghiệp nước ngoài.
Thực tế, doanh nghiệp tư nhân Nhật Bản và Hàn Quốc đã thành công ngoạn mục khi tận dụng nguồn lực kinh doanh nước ngoài trong giai đoạn đầu, sau đó từng bước phát triển mạnh mẽ bằng chính nội lực. Tại hai quốc gia này, chính sách công nghiệp cùng các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) được thiết kế nhằm vừa nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành công nghiệp, vừa tạo điều kiện để khu vực doanh nghiệp tư nhân phát triển.
Từ kinh nghiệm Đông Á, GS. Trần Văn Thọ cho rằng Việt Nam cần xây dựng một chính sách công nghiệp hiệu quả nhằm giúp các doanh nghiệp lớn ngày càng lớn mạnh, đồng thời cùng doanh nghiệp chia sẻ tầm nhìn về định hướng phát triển của nền kinh tế và thúc đẩy đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D).
Bên cạnh đó, cần có các chính sách hiệu quả hơn để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển, tăng cường liên kết với doanh nghiệp lớn và khu vực FDI. Một bộ phận khu vực kinh tế phi chính thức cũng cần từng bước chuyển sang mô hình doanh nghiệp có tổ chức. Với những chính sách như vậy, cùng nỗ lực tích lũy nguồn lực kinh doanh của khu vực doanh nghiệp tư nhân, Việt Nam sẽ giảm dần sự phụ thuộc vào FDI như hiện nay.
Theo ông, mảnh ghép quan trọng để Việt Nam đuổi kịp Hàn Quốc và Nhật Bản chính là xây dựng được một thế hệ doanh nghiệp lớn mạnh.
Với mô hình của Nhật Bản, quốc gia này đã củng cố nội lực bằng cách khuyến khích hình thành các doanh nghiệp quy mô lớn, đồng thời hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như thúc đẩy mối liên kết giữa doanh nghiệp lớn với SME. Nguồn lực kinh doanh nước ngoài được tận dụng thông qua việc tiếp nhận công nghệ, song song với đầu tư cho R&D nhằm cải tiến các công nghệ được du nhập. Mô hình này đã góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Nhật Bản trên thị trường quốc tế.
Trong lĩnh vực công nghiệp, tỷ trọng xuất khẩu của Nhật Bản trong tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới đã tăng từ 4% năm 1955 lên 11% vào năm 1975. Từ một quốc gia có thu nhập trung bình cao vào giữa thập niên 1950, Nhật Bản đã trở thành cường quốc công nghiệp và gia nhập nhóm quốc gia thu nhập cao vào cuối thập niên 1960.
Đối với Hàn Quốc, với tư cách là một quốc gia đi sau, nước này đã thành công trong chiến lược công nghiệp hóa đuổi kịp các nước phát triển, mà cốt lõi là nâng cao nguồn lực kinh doanh của doanh nghiệp. Vai trò của Chính phủ được thể hiện thông qua các chính sách công nghiệp hiệu quả, hỗ trợ doanh nghiệp lớn mạnh trong giai đoạn đầu; đồng thời triển khai các chính sách chấn hưng khoa học, khuyến khích đầu tư công nghệ và đào tạo nhân tài, qua đó giúp doanh nghiệp bắt kịp trình độ nước ngoài và từng bước tự chủ về nguồn lực kinh doanh.
Tóm lại, GS. Trần Văn Thọ cho rằng có hai công cụ chính sách rất đáng để Việt Nam tham khảo. Thứ nhất, Nhà nước can thiệp vào hình thái tổ chức của thị trường bằng cách chỉ lựa chọn một số ít doanh nghiệp đầu tư vào các ngành mới để nhận được sự hỗ trợ của Nhà nước. Cách làm này giúp các doanh nghiệp tiên phong có đủ quy mô thị trường để đạt hiệu quả kinh tế theo quy mô, đồng thời sớm tạo ra lợi nhuận. Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc đều đã triển khai chính sách công nghiệp theo hướng này.
Thứ hai, để khuyến khích doanh nghiệp lớn đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp thay vì tập trung vào bất động sản, lãi suất cho vay cần được duy trì ở mức thấp nhằm bảo đảm tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp cao hơn chi phí vay vốn từ ngân hàng. Muốn vậy, Nhà nước cần cải cách hệ thống ngân hàng, thành lập hoặc khuyến khích phát triển các ngân hàng cung cấp vốn dài hạn, đồng thời tạo điều kiện để hệ thống ngân hàng hoạt động hiệu quả, qua đó thu hẹp chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay.
Theo GS. Trần Văn Thọ, kinh nghiệm của Hàn Quốc trong lĩnh vực này đặc biệt đáng học hỏi, trong khi mô hình ngân hàng vốn dài hạn của Nhật Bản cũng là một bài học tham khảo rất giá trị.
