Phố vàng tê liệt vì lô cốt metro chậm tiến độ, nhà 2 mặt tiền không ai thuê
Những rào chắn kéo dài suốt nhiều năm không chỉ làm gián đoạn giao thông, mà còn âm thầm bào mòn doanh thu, đẩy nhiều cửa hàng và doanh nghiệp vào vòng xoáy thua lỗ.
Chiều muộn trên phố Kim Mã, dòng xe ken đặc nhích từng chút qua đoạn đường bị lô cốt metro thu hẹp. Trái ngược cảnh chen chúc ngoài phố, căn nhà số 409 phía trong lặng lẽ đóng kín, vắng bóng người.
Tấm biển cho thuê treo suốt nhiều tháng, bạc màu theo nắng gió. Ít ai biết, căn nhà hai mặt tiền ở vị trí từng được coi là “đất vàng” này đã bị bỏ trống hơn một năm.
Căn nhà sở hữu hai mặt tiền treo biển suốt hơn một năm nhưng không có ai thuê.
“Trước đây, nhà tôi có thể cho thuê khoảng 200 triệu đồng mỗi tháng. Bây giờ hạ xuống còn 120 triệu mà vẫn không có người thuê. Để không hơn một năm, tính ra thiệt hại cũng tiền tỷ rồi.” , chủ nhà chia sẻ.
Chủ căn nhà cho biết, việc thi công tuyến metro Nhổn - ga Hà Nội kéo dài, cùng với tình trạng rào chắn phục vụ thi công trên phố Kim Mã, khiến hoạt động cho thuê rơi vào tình trạng ế ẩm suốt thời gian dài.
Theo người này, tâm lý chung của khách thuê là e ngại những khu vực đang thi công kéo dài, giao thông khó khăn, môi trường bụi bặm, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh. Ngay cả những khách thuê trước đó cũng không thể trụ lại.
Việc để nhà trống trong thời gian dài không chỉ gây thất thu mà còn khiến tài sản xuống cấp. Dù cân nhắc giảm giá sâu hơn, chủ nhà vẫn phải dè dặt vì lo ngại việc cho thuê giá thấp kéo dài sẽ ảnh hưởng đến giá trị lâu dài của bất động sản.
Dãy cửa hàng trên phố Kim Mã đồng loạt đóng cửa, mặt tiền “phố vàng” trở nên im lìm khi công trường metro quây tôn kéo dài.
Không chỉ riêng căn nhà số 409, cả tuyến phố Kim Mã từng sầm uất nay dần trở nên trầm lắng. Những cửa hiệu từng sáng đèn, đông khách lần lượt đóng cửa, trả lại mặt bằng, để lại phía sau là những dãy nhà im lìm giữa lòng đô thị.
Trong số đó, có những cửa hàng đã gắn bó hàng chục năm, từng là điểm đến quen thuộc của nhiều thế hệ khách hàng, nhưng cũng không thể trụ lại trước những tác động kéo dài từ công trường metro.
Tận cùng của sự cầm cự
Chị N.T.H - quản lý một cửa hàng của thương hiệu đồ ăn nhanh cho biết, trước đây cửa hàng chị phụ trách nằm trên phố Kim Mã, chỉ cách nhà hơn 1km, việc đi lại thuận tiện. Nhưng rồi, sau nhiều năm bị ảnh hưởng bởi việc thi công kéo dài, cửa hàng buộc phải đóng cửa, khép lại quãng thời gian kinh doanh thăng trầm.
Chị H. cho hay, trước khi công trường metro Nhổn - ga Hà Nội xuất hiện, cửa hàng nằm ở vị trí thuận lợi nên lượng khách ổn định, đặc biệt là các nhóm học sinh, gia đình và khách đi ô tô. Nhưng khi tuyến đường bị quây tôn, không gian giao thông bị thu hẹp, việc tiếp cận khách hàng trở nên khó khăn.
Đoạn đường Kim Mã bị thu hẹp bởi rào chắn công trường metro, thường xuyên rơi vào cảnh ùn tắc, khiến việc tiếp cận các cửa hàng hai bên đường trở nên khó khăn.
“Người ta nhìn thấy quán nhưng lại ngại vào, giờ cao điểm thì đoạn đường đó rất tắc, họ chỉ muốn thật nhanh để thoát khỏi ùn tắc chứ chẳng còn tâm trí để ăn uống nữa. Ở phía đối diện gần như không thể nhìn thấy cửa hàng nữa, bởi tôn đã chắn gần hết, lượng khách cứ ít dần đi...”, chị H. cho biết.
Không chỉ ảnh hưởng bởi giao thông, cảnh quan xung quanh cửa hàng chị H. quản lý cũng thay đổi hoàn toàn. Những ngày nắng, bụi từ công trường bao phủ toàn bộ không gian, che mờ toàn bộ cửa kính của cửa hàng. Tới khi mưa xuống, bùn đất tràn vào khu vực tầng hầm để xe, khiến mọi nỗ lực dọn dẹp của các nhân viên trở nên vô nghĩa.
“Khách ngồi tầng 2 vốn là chỗ đẹp nhất, nhưng nhìn ra ngoài chỉ thấy công trường, bụi và đào bới. Mình cho nhân viên lau hôm nay, hôm sau lại bẩn như cũ. Làm dịch vụ ăn uống mà môi trường như vậy thì rất khó giữ khách”, chị nói.
Để cầm cự, cửa hàng buộc phải thu hẹp quy mô, cắt giảm một nửa nhân sự, từ hơn 30 người xuống chỉ còn khoảng 15 người.
Chị H. - quản lý một cửa hàng ăn nhanh trên phố Kim Mã
Thế rồi, những biến động của công trường không chỉ hiện hữu trên mặt đường, mà thấm dần vào từng con số trong sổ sách kinh doanh của cửa hàng.
Nếu trước đây, mỗi ngày trôi qua là những con số doanh thu quen thuộc, khoảng 20 triệu đồng vào ngày thường, 50 - 60 triệu đồng vào cuối tuần thì tới khi rào chắn dựng lên, dòng khách bắt đầu thưa dần.
Khi nhìn lại cả quá trình, chị H. nhận định đây không phải sự sụt giảm đột ngột, mà là một đường trượt kéo dài, thời điểm về sau, doanh thu đã mất đi một nửa, có những ngày chật vật cũng không chạm nổi mốc 10 triệu đồng.
Ở chiều ngược lại, những khoản chi gần như không giảm. Tiền thuê mặt bằng từng ở mức 160 triệu đồng/tháng, dù sau nhiều lần thương lượng đã hạ xuống khoảng 90 triệu, vẫn là gánh nặng đè lên một cửa hàng đang hụt hơi từng ngày.
“Doanh thu giảm một nửa mà tiền nhà chỉ giảm được từng ấy thì không thể trụ được. Chưa kể tiền lương nhân viên, nguyên vật liệu, điện nước… Để cầm cự, cửa hàng buộc phải thu hẹp quy mô, cắt giảm một nửa nhân sự, từ hơn 30 người xuống chỉ còn khoảng 15 người. Vị trí bảo vệ cũng được cho nghỉ, các bạn nhân viên thay nhau đảm nhận, bởi làm gì có khách mà trông xe...
Những người ở lại xoay xở đủ cách để níu kéo khách: từ liên tục tung ra các chương trình khuyến mại, chấp nhận giảm sâu lợi nhuận, đến việc đứng trước cửa phát tờ rơi, phát bóng bay, cố gắng “gọi” khách giữa dòng người vội vã.
Thậm chí, nhân viên còn tìm đến các trường học để tiếp cận khách hàng mới. Nhưng mọi nỗ lực ấy cũng chỉ đủ để kéo dài thêm thời gian cầm cự" , chị H. nói, giọng chùng xuống.
Trong ký ức của chị H., những ngày cao điểm không chỉ là con số doanh thu, mà còn là hình ảnh những chuyến xe 45 chỗ chở đầy học sinh dừng trước cửa, rộn ràng tiếng cười nói. Đó từng là nguồn khách ổn định, mang lại phần doanh thu đáng kể cho cửa hàng suốt nhiều năm.
Nhưng rồi, khi rào chắn dựng lên và tuyến đường bị hạn chế phương tiện, những chuyến xe ấy dần biến mất. Không có chỗ dừng đỗ, không thể đảm bảo an toàn cho học sinh di chuyển quãng đường xa, các trường buộc phải tìm đến những địa điểm khác thuận tiện hơn.
“Đoạn đường phía trước cửa hàng chỉ cho phép xe máy đi vào. Vì vậy mình mất nguồn khách lớn. Khoản hụt đó không thể bù đắp. Việc kinh doanh tiếp tục trượt dài trong thua lỗ suốt hơn 2 năm, có những tháng âm 40 - 60 triệu đồng. Tính bình quân, mỗi năm cửa hàng lỗ tới vài trăm triệu. Đó là con số rất lớn với một cửa hàng. Lỗ triền miên như vậy thì không thể duy trì”, chị chia sẻ.
Sau nhiều cuộc họp kéo dài và những lần thương lượng bất thành với chủ nhà, quyết định đóng cửa cuối cùng cũng được đưa ra vào tháng 9/2024, khép lại một chặng đường đã gắn bó gần chục năm của thương hiệu này tại tuyến phố Kim Mã.
“Bọn mình coi nhau như gia đình, gắn bó bao kỷ niệm vui buồn với nơi này. Mình và các bạn nhân viên từng ở lại đến đêm muộn để cùng bàn về kế hoạch kinh doanh, với hy vọng níu giữ được cơ sở này nhưng bất thành. Khi đóng cửa, mỗi người một nơi… buồn lắm. Thi thoảng đi qua, nhìn cửa hàng bỏ trống, vẫn thấy rơm rớm”, chị H. thở dài.
“Hóa đơn vô hình" của công trình chậm tiến độ
Những gì diễn ra trên phố Kim Mã không chỉ là câu chuyện của một hộ kinh doanh hay một tuyến phố, mà phản ánh một bài toán lớn hơn về cái giá của sự chậm trễ trong các dự án hạ tầng đô thị.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ, chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long, Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam cho rằng, bài học lớn nhất từ dự án metro Nhổn - ga Hà Nội là không thể tiếp tục nhìn các dự án hạ tầng chỉ qua tỷ lệ giải ngân hay phần trăm khối lượng hoàn thành.
“Cần bổ sung cách tiếp cận quản trị theo chi phí xã hội. Mỗi sự chậm trễ phải được soi chiếu không chỉ bằng số vốn tăng thêm, mà còn bằng thời gian xã hội mất đi, doanh nghiệp bị ảnh hưởng ra sao, ùn tắc kéo dài thêm thế nào, cơ hội phát triển thương mại - dịch vụ quanh tuyến bị chậm bao lâu”, ông phân tích.
Công trường thi công tuyến metro Nhổn - Ga Hà Nội với quy mô lớn, kéo dài nhiều năm, nơi mỗi sự chậm trễ không chỉ làm đội vốn dự án mà còn kéo theo những “chi phí xã hội” âm thầm đè nặng lên người dân và doanh nghiệp.
Theo ông Long, khi lượng hóa được phần “hóa đơn vô hình” này, sức ép hoàn thành đúng hạn sẽ trở nên thực chất hơn, thay vì chỉ dừng ở những con số kỹ thuật trên giấy.
Không dừng lại ở đó, vị chuyên gia nhấn mạnh yêu cầu phải làm rõ trách nhiệm đến từng khâu trong quá trình triển khai. Với những dự án có nhiều bên tham gia, nếu trách nhiệm bị dàn trải, chi phí xã hội phát sinh sẽ không có ai đứng ra chịu trách nhiệm đầy đủ.
“Cần một đầu mối chịu trách nhiệm cuối cùng về tiến độ liên ngành. Khâu nào chậm, vướng ở đâu, đơn vị nào phải xử lý cần được công khai và giám sát thường xuyên. Càng minh bạch trách nhiệm, càng giảm nguy cơ chậm trễ kéo dài.
Hợp đồng phải quy định rõ cơ chế bù đắp, gia hạn, điều chỉnh giá và cảnh báo sớm rủi ro dòng tiền. Nếu không, tranh chấp kéo dài, chi phí đội lên, và cuối cùng toàn xã hội vẫn là bên phải trả giá”, PGS Ngô Trí Long nói.
pgs-ngo-tri-long (1).jpgPGS Ngô Trí Long
Từ góc nhìn rộng hơn, ông Long cho rằng cần nhìn metro không chỉ là một dự án giao thông, mà là hạ tầng của tăng trưởng đô thị.
Thực tế cho thấy, sau một năm vận hành, đoạn trên cao Nhổn - Cầu Giấy đã phục vụ hơn 6,4 triệu lượt hành khách, tương đương khoảng 19.000 - 21.000 lượt mỗi ngày. Đây là minh chứng rõ ràng cho nhu cầu và hiệu quả xã hội của loại hình vận tải này.
Điều đó cũng có nghĩa, mỗi năm chậm trễ trước đó là thêm một năm đô thị phải tiếp tục chịu ùn tắc, chi phí cao và bỏ lỡ cơ hội tái cấu trúc không gian phát triển.
Và theo vị chuyên gia, cái giá lớn nhất của một dự án metro chậm tiến độ không nằm trọn trong con số tổng mức đầu tư tăng thêm.
“Đó là thời gian của xã hội bị hao hụt, cơ hội kinh doanh bị bỏ lỡ, dòng tiền doanh nghiệp bị bào mòn và niềm tin thị trường bị tổn thương. Muốn tránh lặp lại điều này, cần chuyển từ tư duy ‘quản lý công trình’ sang ‘quản trị chi phí xã hội’”, ông nhấn mạnh.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Trí Long phân tích thêm, đối với các nhà thầu tham gia dự án, chậm tiến độ làm phát sinh một chuỗi rủi ro tài chính phức tạp hơn nhiều.
Thời gian kéo dài đồng nghĩa chi phí nhân công, máy móc, điều hành công trường, bảo hiểm, bảo lãnh, lãi vay và cả rủi ro tỷ giá đều tăng lên.
Khi mặt bằng không được bàn giao đúng tiến độ, kế hoạch thi công bị đảo lộn, dòng tiền dự kiến bị vỡ, hiệu quả hợp đồng bị suy giảm. Đây không chỉ là rủi ro kỹ thuật, mà là rủi ro tài chính thực sự đối với nhà thầu và các đơn vị cung ứng liên quan.
(Thiết kế: Nhật Anh)