Não mô cầu có sợ không? Bác sĩ nhận định tình hình nhiễm não mô cầu ở Việt Nam 2025-2026
"Tôi xin nói rằng, não mô cầu là một bệnh truyền nhiễm tự nhiên năm nào cũng có, tỷ lệ mắc rất nhỏ, hết sức nhỏ so với hơn 100 triệu người Việt Nam", BS Phạm Ngọc Thắng nói.
NÃO MÔ CẦU CÓ SỢ KHÔNG?
Ai không bị thì không sợ, ai bị rồi thì sợ.
Nhưng tôi xin nói rằng, não mô cầu là một bệnh truyền nhiễm tự nhiên năm nào cũng có, tỷ lệ mắc rất nhỏ, hết sức nhỏ so với hơn 100 triệu người Việt Nam.
Điểm qua chút về dịch tễ học và bệnh học thì:
Bệnh não mô cầu là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi khuẩn Neisseria meningitidis gây ra. Bệnh có thể gây viêm màng não mủ, nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn và tử vong nhanh nếu không được điều trị kịp thời.
1. Đặc điểm dịch tễ
- Nguồn bệnh: Người mắc bệnh và người lành mang vi khuẩn não mô cầu ở vùng mũi họng.
- Đường lây: Chủ yếu qua giọt bắn và dịch tiết đường hô hấp khi tiếp xúc gần, kéo dài như sống chung, hôn hoặc tiếp xúc trực tiếp với nước bọt.
- Thời gian ủ bệnh: Thường 3-4 ngày, dao động 2–10 ngày.
- Tỷ lệ mang vi khuẩn: Khoảng 10% dân số có thể mang não mô cầu ở vùng mũi họng mà không có triệu chứng, tỷ lệ thay đổi theo độ tuổi và điều kiện sống.
- Tính chất dịch: Có thể xuất hiện ca bệnh lẻ tẻ, ổ dịch nhỏ hoặc dịch lớn.
BS Phạm Ngọc Thắng. (Ảnh: BSCC)
2. Phân bố theo tuổi
Các nhóm có nguy cơ mắc bệnh cao gồm:
- Trẻ sơ sinh và trẻ dưới 5 tuổi.
- Thanh thiếu niên, đặc biệt nhóm 15-24 tuổi.
- Người sống trong môi trường tập thể như ký túc xá, doanh trại quân đội.
- Người suy giảm miễn dịch, thiếu bổ thể hoặc không có chức năng lách.
3. Phân bố theo địa lý
Bệnh lưu hành trên toàn thế giới, nhưng mức độ khác nhau giữa các khu vực.
- Châu Phi: Vành đai viêm màng não từ Senegal đến Ethiopia từng ghi nhận nhiều vụ dịch lớn.
- Châu Âu và Bắc Mỹ: Chủ yếu ghi nhận ca bệnh rải rác và các ổ dịch nhỏ.
- Châu Á, trong đó có Việt Nam: Bệnh lưu hành, có thể xuất hiện các ca bệnh và ổ dịch tại cộng đồng, trường học, doanh trại.
Tại Việt Nam, bệnh não mô cầu thuộc nhóm bệnh truyền nhiễm nhóm B theo Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm.
4. Các nhóm huyết thanh gây bệnh
Não mô cầu có nhiều nhóm huyết thanh, trong đó các nhóm A, B, C, W, X và Y có ý nghĩa dịch tễ quan trọng.
Nhóm Đặc điểm dịch tễ
A Từng gây dịch lớn tại châu Phi
B Gây bệnh ở nhiều quốc gia, thường gặp ở trẻ nhỏ
C Có thể gây các ổ dịch trong cộng đồng
W Liên quan đến các đợt bùng phát tại nhiều khu vực
Y Gây bệnh ở nhiều nhóm tuổi
X Có ý nghĩa ngày càng tăng tại một số khu vực châu Phi
Tử ban là nguyên nhân vỡ các mạch máu ở dưới da, tạo thành ổ tụ máu nhỏ. Trong não mô cầu, tử ban đc mô tả dạng bản đồ, tăng kích thước nhanh. (Ảnh minh họa: Internet)
5. Mức độ nguy hiểm
Theo WHO, ngay cả khi được điều trị, bệnh não mô cầu xâm lấn vẫn có thể gây tử vong khoảng 8–15% trường hợp. Trong số người sống sót, có thể có khoảng 10-20% bị di chứng như điếc, tổn thương thần kinh hoặc mất chi.
Các dấu hiệu nguy hiểm gồm sốt cao, đau đầu dữ dội, cứng gáy, nôn, rối loạn ý thức hoặc ban xuất huyết không mất màu khi ấn. Khi nghi ngờ bệnh não mô cầu xâm lấn, cần đến bệnh viện cấp cứu ngay.
6. Phòng chống dịch
Các biện pháp chính gồm tiêm vaccine phòng các nhóm huyết thanh phù hợp; phát hiện, điều trị sớm người bệnh; giám sát ca bệnh và ổ dịch; đồng thời sử dụng kháng sinh dự phòng cho người tiếp xúc gần theo chỉ định của cơ quan y tế. Không phải mọi người tiếp xúc thông thường đều cần uống kháng sinh.
TÌNH HÌNH NHIỄM NÃO MÔ CẦU Ở VIỆT NAM NĂM 2025-2026
Tình hình
Dưới đây là số liệu ở hai mốc báo cáo khác nhau, không phải số liệu cả năm 2026. Số 95 ca của năm 2025 cũng được công bố theo kỳ giám sát bắt đầu từ 14/12/2024.
Năm 2025
95 ca
3 ca tử vong
Số liệu công bố cuối tháng 12/2025
14 tuần đầu năm 2026
24 ca
4 ca tử vong
Số liệu Bộ Y tế ngày 13/4/2026
Diễn biến trong năm 2025
Theo các thông tin công bố:
- Đến ngày 15/9/2025, cả nước ghi nhận 38 ca bệnh não mô cầu.
- Đến cuối tháng 12/2025, số ca được báo cáo tăng lên 95, cao hơn 74 ca so với cùng kỳ trước đó.
- Ghi nhận 3 trường hợp tử vong, trong đó có bệnh nhân nữ 33 tuổi tại Thanh Hóa.
- Các nhóm huyết thanh A, B, C, W và Y đều đã được ghi nhận lưu hành tại Việt Nam.
Diễn biến năm 2026
Theo Bộ Y tế, trong 14 tuần đầu năm 2026:
- Có 24 ca mắc, so với 14 ca cùng kỳ năm 2025, tăng khoảng 71,4%.
- Có 4 trường hợp tử vong, tương ứng tỷ lệ tử vong trong số ca được báo cáo khoảng 16,7%.
- Trẻ dưới 15 tuổi chiếm 46% số ca mắc.
- Các ca bệnh xuất hiện rải rác trong cộng đồng, chưa hình thành ổ dịch tập trung tại thời điểm báo cáo tháng 4.
Các địa phương được ghi nhận có ca bệnh trong những tháng đầu năm gồm Hà Nội, TP.HCM, Hà Tĩnh và Lào Cai.
Theo WHO, ngay cả khi được điều trị, bệnh não mô cầu xâm lấn vẫn có thể gây tử vong khoảng 8–15% trường hợp. (Ảnh minh họa: Internet)
Cập nhật mới nhất đến ngày 19/10/2026
Số liệu toàn quốc - 9 tháng đầu năm 2026
34 case mắc bệnh; có 5 case tử vong - tỷ lệ là 14,7% tử vong / case mắc bệnh.
Theo báo cáo kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2026. Đây là mốc toàn quốc gần nhất tôi xác minh được, chưa phải tổng số đến ngày 19/10.
Tại khu vực phía Nam, đến hết ngày 17/10/2026:
- Ghi nhận 42 ca mắc, 7 ca tử vong.
- Khoảng 94% trường hợp nhiễm não mô cầu nhóm B.
- TP.HCM chiếm hơn 57% số ca trong khu vực, tiếp theo là Cà Mau và Đồng Tháp.
Nói thêm: Đây là số liệu khu vực phía Nam đến tháng 10, không được cộng trực tiếp với số liệu toàn quốc đến tháng 9 vì khác thời điểm và có các trường hợp trùng nhau.
ĐIỀU TRỊ NÃO MÔ CẦU
Phác đồ điều trị:
Bệnh não mô cầu do vi khuẩn Neisseria meningitidis gây ra, có hai thể bệnh xâm lấn đặc biệt nguy hiểm:
1. Viêm màng não mủ do não mô cầu: Sốt cao, đau đầu dữ dội, nôn, cứng gáy, rối loạn ý thức, có thể co giật.
2. Nhiễm khuẩn huyết do não mô cầu: Sốt cao, rét run, ban xuất huyết, tụt huyết áp, sốc nhiễm khuẩn, rối loạn đông máu và suy đa cơ quan.
Người bệnh có thể mắc đồng thời cả hai thể.
Nguyên tắc quan trọng nhất: Điều trị kháng sinh đường tĩnh mạch càng sớm càng tốt. Đây là bệnh cấp cứu, có thể diễn biến nặng trong vài giờ. Người nghi mắc bệnh não mô cầu xâm lấn phải được đưa đến bệnh viện ngay, không tự điều trị bằng kháng sinh uống tại nhà.
1. Điều trị kháng sinh đặc hiệu
Ceftriaxone: Một trong những thuốc ưu tiên điều trị ban đầu
Cefotaxime: Lựa chọn ưu tiên thay thế ceftriaxone
Penicillin G: Có thể dùng khi xác định vi khuẩn nhạy cảm
Ampicillin Có thể cân nhắc khi có bằng chứng nhạy cảm và chỉ định phù hợp
Trong trường hợp nghi viêm màng não do vi khuẩn nhưng chưa xác định được tác nhân, bác sĩ có thể cần phối hợp kháng sinh để bao phủ các vi khuẩn khác, tùy tuổi, bệnh nền và tình hình kháng thuốc.
Không trì hoãn dùng kháng sinh để chờ chọc dò dịch não tủy hoặc kết quả xét nghiệm.
Bệnh não mô cầu do vi khuẩn Neisseria meningitidis gây ra. (Ảnh minh họa: Internet)
2. Thời gian điều trị
Theo hướng dẫn NICE và WHO:
- Bệnh não mô cầu xác định, đáp ứng tốt: Thường điều trị kháng sinh khoảng 5 ngày.
- Nếu chưa xác định được vi khuẩn gây viêm màng não, thời gian điều trị có thể dài hơn.
- Trường hợp có biến chứng, diễn biến nặng hoặc đáp ứng kém cần được bác sĩ chuyên khoa đánh giá để điều chỉnh.
Thời gian điều trị không chỉ dựa vào số ngày mà còn phụ thuộc tình trạng lâm sàng và kết quả xét nghiệm.
3. Điều trị hồi sức tích cực
Đối với bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn do não mô cầu, cần điều trị tại khoa Hồi sức tích cực (ICU).
Các biện pháp bao gồm:
- Truyền dịch tinh thể có kiểm soát, đánh giá đáp ứng liên tục.
- Sử dụng thuốc vận mạch, thường là norepinephrine, nếu sốc kéo dài.
- Thở oxy, đặt nội khí quản và thở máy khi cần.
- Theo dõi và điều trị rối loạn đông máu, xuất huyết, suy thận cấp và suy đa cơ quan.
- Điều trị co giật, kiểm soát áp lực nội sọ khi có chỉ định.
Corticosteroid không được sử dụng thường quy chỉ vì xác định nhiễm não mô cầu. Dexamethasone có thể được cân nhắc khi ban đầu nghi viêm màng não do vi khuẩn, sau đó đánh giá lại theo tác nhân gây bệnh.
4. Xét nghiệm chẩn đoán
Các xét nghiệm thường được chỉ định:
Cấy máu: Phát hiện vi khuẩn gây bệnh
PCR não mô cầu: Xác định tác nhân nhanh
Dịch não tủy: Chẩn đoán viêm màng não nếu đủ điều kiện an toàn
Công thức máu, CRP, proccalcitonin: Đánh giá tình trạng viêm nhiễm
Đông máu, fibrinogen, D-dimer: Phát hiện rối loạn đông máu
Lactate, chức năng gan thận: Đánh giá mức độ nặng
Không chọc dò dịch não tủy khi người bệnh đang sốc hoặc có chống chỉ định; cần hồi sức và dùng kháng sinh trước.
5. Dự phòng cho người tiếp xúc gần
Người sống cùng nhà, tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết mũi họng hoặc có tiếp xúc gần thuộc nhóm nguy cơ cần được đánh giá để dùng kháng sinh dự phòng càng sớm càng tốt.
Các thuốc có thể được sử dụng gồm rifampicin, ciprofloxacin hoặc ceftriaxone. Lựa chọn phụ thuộc tuổi, tình trạng mang thai, chống chỉ định và tình hình kháng thuốc tại địa phương.
6. Theo dõi sau điều trị
Người bệnh khỏi nhiễm trùng vẫn cần được đánh giá các di chứng:
- Giảm thính lực hoặc điếc.
- Tổn thương thần kinh, suy giảm trí nhớ.
- Di chứng hoại tử da, chi.
- Các vấn đề tâm lý và phục hồi chức năng.
Nguồn: Hướng dẫn chuyên môn: WHO 2025 – Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị viêm màng não và CDC – Điều trị bệnh não mô cầu
BS Phạm Ngọc Thắng



