860.000 doanh nghiệp đừng chỉ 'cạnh tranh trong đơn độc'
Theo chuyên gia, giới doanh chủ và các doanh nghiệp Việt Nam cần biết chia sẻ tri thức và xây dựng liên minh. Ngày nay, đây là yếu tố giúp doanh nghiệp phát triển nhanh hơn việc chỉ cạnh tranh trong đơn độc.
Dây chuyền lắp ráp xe tại Nhà máy ô tô VinFast Hải Phòng. (Ảnh minh hoạ: DĐDN)
Khả năng thích ứng
Khởi đầu vào năm 1982 với hai cơ sở sản xuất nhỏ tại TP.HCM, khoảng 20 công nhân làm ra những đôi dép cao su đơn giản, Biti’s sau đó trở thành một trong những doanh nghiệp tư nhân đầu tiên được phép trực tiếp xuất khẩu, chủ yếu sang Liên Xô và Đông Âu.
Khi các thị trường này sụp đổ vào cuối thập niên 1980, công ty hoàn toàn có thể biến mất. Thay vào đó, Biti’s tìm kiếm những thị trường mới trong khu vực và trong nước, rồi tái thiết hoạt động kinh doanh.
Nhiều thập kỷ sau, thế hệ lãnh đạo mới tiếp tục đổi mới thương hiệu thông qua dòng sản phẩm Biti’s Hunter, chinh phục người tiêu dùng trẻ Việt Nam.
Qua câu chuyện trên của Biti’s, TS Tony Nguyễn, Chủ nhiệm các chương trình Sau đại học tại Khoa Kinh doanh, Đại học RMIT Việt Nam cho rằng, khả năng chuyển hướng linh hoạt mà vẫn giữ vững mục tiêu lớn hơn là đặc trưng nổi bật trong tinh thần giới doanh chủ Việt Nam.
Trong bối cảnh nền kinh tế đối mặt với không ít thách thức, khu vực doanh nghiệp vẫn tiếp tục khẳng định vai trò là động lực tăng trưởng quan trọng nhất.
Theo kết quả sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 do Cục Thống kê công bố, đến 31/12/2025, trong 1,22 triệu doanh nghiệp được thu thập thông tin trên cả nước, có 859.048 doanh nghiệp đang hoạt động và có kết quả sản xuất kinh doanh.
Con số này tăng 2,4% so với năm 2024 và cao hơn 25,5% so với trước đó 5 năm.
Sự phát triển của doanh nghiệp kéo theo quy mô lao động lên gần 17,6 triệu người, tăng 7,5% so với năm 2024. Tổng doanh thu thuần của khu vực doanh nghiệp đạt 45,3 triệu tỷ đồng, tăng 13,1% so với năm trước, trong đó khu vực ngoài Nhà nước và FDI tiếp tục đóng góp chủ yếu.
“Nếu phải dùng một từ để mô tả doanh nhân Việt Nam, tôi sẽ chọn ‘khả năng thích ứng’. Đây là năng lực nhanh chóng nắm bắt những thay đổi của tình hình và biến chúng thành cơ hội”, ông nói và cho biết, Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10) bắt nguồn từ bức thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi giới công thương vào năm 1945. Đây là lời nhắc nhở rằng doanh nhân từ lâu đã là một phần trong câu chuyện phát triển của đất nước.
Trước thời kỳ Đổi Mới, một số doanh nghiệp và lãnh đạo địa phương đã âm thầm thực hiện cơ chế ‘xé rào’, tìm cách thức thực tiễn để sản xuất và kinh doanh. Nhiều thử nghiệm trong số này góp phần định hình các cải cách năm 1986. Sau đó, hàng triệu gia đình mở cửa hàng nhỏ và xưởng sản xuất với nguồn vốn hạn chế nhưng đầy quyết tâm.
Ngày nay, hướng đi của khả năng thích ứng năm xưa đang thay đổi. Nếu như các thế hệ doanh chủ trước thường thích ứng để tồn tại thì doanh nhân ngày nay, trong đó có nhiều người ông Tony Nguyễn đã gặp khi là học viên MBA và cựu học viên của chương trình, đang thích ứng để mở rộng quy mô kinh doanh.
Năm 2025, tổng doanh thu thuần của khu vực doanh nghiệp đạt 45,3 triệu tỷ đồng, tăng 13,1% so với năm trước. (Ảnh: TBNH)
Bốn thay đổi quan trọng
Giới doanh nhân thế hệ sau am hiểu công nghệ số, có kết nối toàn cầu và chú trọng thương hiệu, quản trị doanh nghiệp cũng như tính bền vững ngay từ đầu.
Tinh thần bền bỉ của các bậc tiền bối vẫn được giữ nguyên, song điểm mới là khát vọng xây dựng những doanh nghiệp Việt Nam có thể dẫn dắt thị trường toàn cầu, phù hợp với tầm nhìn của Nghị quyết 41-NQ/TW năm 2023 của Bộ Chính trị, theo vị chuyên gia.
Thành viên Đại học RMIT cho rằng, Nghị quyết 41 gửi đi thông điệp rõ ràng: Doanh nhân là lực lượng nòng cốt trong hành trình đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.
Tương tự doanh nhân tại những nền kinh tế tăng trưởng nhanh như Hàn Quốc và Singapore trong các thập kỷ trước, doanh nghiệp Việt Nam đang bước vào một giai đoạn mới với những sự thay đổi quan trọng:
Thứ nhất là chuyển từ tư duy tồn tại sang tư duy mở rộng quy mô. Để xây dựng những doanh nghiệp có khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, doanh nhân ngày càng cần tư duy dài hạn, tính bằng nhiều thập kỷ, đồng thời đầu tư vào nghiên cứu, thương hiệu, chất lượng và con người, ngay cả khi phải mất thời gian mới thu được lợi nhuận.
Thứ hai là chuyển từ quản lý mang tính gia đình sang quản trị chuyên nghiệp. Các doanh nghiệp gia đình đã đóng góp rất lớn cho nền kinh tế Việt Nam.
Khi phát triển về quy mô, việc có đội ngũ quản lý chuyên nghiệp, cố vấn độc lập và kế hoạch kế nhiệm rõ ràng sẽ giúp doanh nghiệp tăng khả năng chống chịu, đồng thời trở nên hấp dẫn hơn trong mắt nhà đầu tư và đối tác.
Thứ ba là chuyển từ hoạt động đơn lẻ sang hợp tác. Những hệ sinh thái thành công nhất thế giới được xây dựng trên nền tảng hợp tác giữa doanh nghiệp, trường đại học và các đối tác quốc tế.
Các doanh nghiệp Việt Nam cần biết chia sẻ tri thức và xây dựng liên minh. Đây là yếu tố giúp doanh nghiệp phát triển nhanh hơn việc chỉ cạnh tranh trong đơn độc.
Thứ tư là cần có thái độ cởi mở hơn với thất bại. Nhiều doanh nhân thành công từng thất bại trước khi đạt được thành tựu. Một nền văn hóa xem thất bại là cơ hội học hỏi quý giá sẽ khuyến khích người trẻ thử sức với những ý tưởng táo bạo.
Bài học từ Hàn Quốc và Singapore
Đối với việc hỗ trợ các doanh nhân, nhiều quốc gia châu Á đã xây dựng những cơ chế sáng tạo để hỗ trợ đội ngũ này.
Trong đó, theo TS Tony Nguyễn, có hai mô hình khiến ông đặc biệt quan tâm, cùng dựa trên một nguyên tắc: Nhà nước đóng vai trò xúc tác và đối tác, trong khi doanh nhân hay nhà đầu tư tư nhân giữ vai trò dẫn dắt.
TS Tony Nguyễn, Chủ nhiệm các chương trình Sau đại học tại Khoa Kinh doanh, Đại học RMIT Việt Nam.
Ví dụ thứ nhất là chương trình Startup SG của Singapore, được triển khai năm 2017 dưới sự quản lý của Enterprise Singapore.
Chương trình này kết hợp các khoản tài trợ, cơ chế đồng đầu tư và hoạt động cố vấn. Trong đó, những người lần đầu khởi nghiệp được hỗ trợ vốn ban đầu và kết nối với một cố vấn giàu kinh nghiệm. Bởi, các nhà sáng lập trẻ cần sự hướng dẫn cũng như mạng lưới quan hệ - điều quan trọng không kém nguồn vốn.
Một dẫn chứng khác là chương trình TIPS của Hàn Quốc. Trong đó, các đơn vị thúc đẩy khởi nghiệp tư nhân và nhà đầu tư thiên thần sẽ lựa chọn những startup tiềm năng để đầu tư trước. Sau đó, Chính phủ cấp thêm nguồn vốn đối ứng dành cho nghiên cứu và phát triển.
Đối với TIPS, các nhà đầu tư giàu kinh nghiệm xác định những dự án triển vọng nhất, còn nguồn vốn công giúp nhân rộng tác động của khoản đầu tư đó. Những người khởi nghiệp cũng được hưởng lợi từ hoạt động cố vấn ngay từ giai đoạn đầu.
TS Tony Nguyễn đánh giá, cả hai mô hình đều hướng đến phát triển năng lực và quan hệ hợp tác, chứ không chỉ cung cấp vốn.
Việc vận dụng những bài học quốc tế phù hợp như trên với bối cảnh Việt Nam có thể góp phần hiện thực hóa tầm nhìn của Nghị quyết 41, tạo nền tảng cho một thế hệ doanh nghiệp nội địa mới có năng lực cạnh tranh toàn cầu.
Việt Nam cũng đang đi theo hướng tương tự, đơn cử việc thông qua Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) cũng như sự kết nối ngày càng tăng giữa doanh nghiệp, nhà đầu tư và trường đại học, vị chuyên gia bổ sung.


