3.000 drone đang bay phục vụ nông nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long, nữ Phó Viện trưởng chỉ ra con số tỷ USD đáng chú ý
Dư địa phát triển của lĩnh vực kinh tế trong không gian tầm thấp là lớn. Tuy nhiên, thách thức đang tồn tại và Việt Nam cần định hướng phát triển lĩnh vực này phù hợp với năng lực cũng như nhu cầu thực tế.
Bà Bùi Minh Phương - Phó Viện trưởng Viện Phát triển không gian tầm thấp. (Ảnh: BTC).
Chia sẻ trong một phiên chuyên đề thuộc khuôn khổ Diễn đàn kinh tế Mùa Thu 2026, bà Bùi Minh Phương - Phó Viện trưởng Viện Phát triển không gian tầm thấp (Hội Hàng không Vũ trụ Việt Nam (VASA) cho biết, kinh tế tầm thấp đang mở ra một cợ hội mới với tiềm năng phát triển lớn.
Bà dẫn số liệu, thị trường dịch vụ kinh tế tầm thấp toàn cầu có thể đạt khoảng 128 tỷ USD vào năm 2030. Còn tại Việt Nam, thị trường thiết bị bay không người lái (UAV) dự báo cũng đạt khoảng 10 tỷ USD vào năm 2035. Điều này cho thấy dư địa phát triển của lĩnh vực này.
Tuy nhiên, nữ Phó Viện trưởng cho rằng, cơ hội không nằm ở quy mô thị trường mà nằm ở khả năng chuyển hoá tiềm năng thành giá trị kinh tế và năng lực công nghệ trong nước.
Hiện, Việt Nam đã có những nền tảng chính sách quan trọng trong lĩnh vực này.
Trong đó, Kết luận số 99-KL/TW ngày 28/9/2026 của Bộ Chính trị xác định không gian tầm thấp là tài nguyên quốc gia, là một không gian phát triển mới gắn với đảm bảo chủ quyền không phận, chủ quyền dữ liệu, an ninh mạng, bảo vệ biên giới, biển đảo...
Tới năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu vận hành 3 khu thử nghiệm bay cấp quốc gia và ít nhất 1 trung tâm nghiên cứu thử nghiệm quốc gia về UAV.
Đến năm 2045, kinh tế tầm thấp phấn đấu đóng góp khoảng 1,5% GDP, với tỷ lệ nội địa hóa vượt 85%.
UAV của CT UAV thực hiện chuyến bay giao hàng vượt biển, từ Cần Giờ đến thẳng Vũng Tàu. (Ảnh: VGP/LS)
Thách thức vẫn còn
Dù lĩnh vực còn có dư địa phát triển, song Phó Viện trưởng Viện Phát triển không gian tầm thấp đã chỉ ra những thách thức đang tồn tại,
Thứ nhất là hành lang pháp lý, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý vùng trời, cấp phép và xử lý sự cố còn thiếu rõ ràng.
Tiêu chuẩn kỹ thuật, trách nhiệm pháp lý của người khai thác, nhà sản xuất và chủ thể dữ liệu chưa được xác nhận, hoàn thiện.
Thứ hai là an ninh và chủ quyền. Hoạt động bay gần sân bay, khu dân cư và cơ sở trọng yếu đòi hỏi cơ chế kiểm soát tương ứng.
Nếu mở rộng hoạt động bay mà không có năng lực giám sát và xử lý sự cố sẽ đi kèm những rủi ro tiềm ẩn về quốc phòng và an ninh.
Thứ ba là sự phụ thuộc về công nghệ và chuỗi cung ứng. Do đó, năng lực nội địa cần được nâng cao, tập trung vào khâu thiết kế, bảo mật, bảo trì, hướng tới làm chủ công nghệ lõi.
Thứ tư là hiệu quả kinh tế của UAV cần được tính trên chi phí vòng đời. Vòng đời này gồm thiết bị, nhân lực, pin, bảo trì, bảo hiểm, kết nối. Việc tính toán hiệu quả kinh tế sẽ tránh đầu tư dàn trải, không hiệu quả.
Thứ năm là yếu tố niềm tin xã hội. Tiếng ồn, quyền riêng tư, nguy cơ tai nạn và việc sử dụng dữ liệu sai mục đích có thể ảnh hưởng tới niềm tin xã hội trong việc ứng dụng UAV.
Tương lai nào cho UAV?
Để khai thác hiệu quả tiềm năng của kinh tế tầm thấp, bà Phương khẳng định, Việt Nam cần định hướng phát triển lĩnh vực này phù hợp với năng lực và nhu cầu thực tế.
Về phát triển thị trường, Việt Nam không nhất thiết phải tạo ra các thị trường mới hoàn toàn mà có thể bắt đầu từ những nhu cầu hiện hữu như nông nghiệp chính xác, giám sát hạ tầng, logistics, khảo sát địa hình hay xây dựng bản đồ số...
Đây là những lĩnh vực khả thi cho Việt Nam triển khai trong thời gian tới.
Đơn cử, tính đến năm 2025, tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, đã có hơn 3.000 drone phục vụ nông nghiệp với diện tích trên khoảng 1,5 triệu ha.
Ngoài ra, việc phát triển chuỗi giá trị kinh tế từ hoạt động kinh tế trong gian tầm thấp không chỉ được tạo ra thiết bị bay mà còn từ hoạt động phát triển phần mềm, xử lý và phân tích dữ liệu, tích hợp hệ thống bảo trì và cung cấp dịch vụ vận hành.
Theo bà Phương, trong bối cảnh Việt Nam chưa thể làm chủ công nghệ phần cứng ngay từ đầu, việc xác định không gian phát triển phù hợp với năng lực và điều kiện trong nước sẽ tạo cơ sở để từng bước nâng cao năng lực công nghệ, tỷ lệ gia tăng giá trị nội địa và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị của ngành.
Mô hình giao hàng bằng thiết bị bay không người lái của Meituan tại Trung Quốc là ví dụ điển hình cho thấy việc phát triển thị trường kinh tế tầm thấp cần gắn với ứng dụng công nghệ, nhu cầu thực tiễn và quy trình cung cấp dịch vụ.
Về triển vọng trong 10 năm tới, bà Bùi Minh Phương cho rằng, cần tập trung vào một số định hướng theo giai đoạn.
Giai đoạn 2027-2030 là đặt nền móng cho kinh tế tầm thấp. Trong giai đoạn này, nhà nước cần tập trung hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy trình phối hợp giữa các cơ quan quản lý, đồng thời, quy hoạch và thiết lập các khu vực thử nghiệm có kiểm soát, nhằm đánh giá tính khả thi, mức độ an toàn và hiệu quả ứng dụng.
Giai đoạn 2031-2036 là tích hợp hoạt động và hình thành kinh tế tầm thấp. Lúc này, Nhà nước cần định hướng phát triển hệ sinh thái kinh tế tầm thấp theo hướng tăng cường liên kết giữa các nghiên cứu, sản xuất, cung ứng dịch vụ và ứng dụng thực tiễn.
Trọng tâm là cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp chuyển từ cung cấp thiết bị đơn lẻ sang phát triển dịch vụ trọn gói bao gồm lập kế hoạch bay, vận hành, xử lý dữ liệu và báo cáo kết quả.
Đồng thời, theo đại diện Viện Phát triển không gian tầm thấp, cần thúc đẩy hình thành các cụm liên kết ngành với sự tham gia của các viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp công nghệ, nhà sản xuất, cơ quan quản lý nhà nước và khách hàng.

