Vụ ca sĩ 14 tuổi cầu cứu: Mập mờ hợp đồng đào tạo có thể biến thành khai thác lao động trẻ em

| Xã hội

Từ vụ việc nữ ca sĩ 14 tuổi lên tiếng tố bị chèn ép trong quá trình hoạt động nghệ thuật, Luật sư Nguyễn Hữu Thục cho rằng ranh giới giữa đào tạo tài năng trẻ và sử dụng lao động trẻ em đang tồn tại nhiều "vùng xám".

Nữ ca sĩ 14 tuổi tố bị lạm dụng, chèn ép

Khuya 15/6, mạng xã hội xôn xao trước đoạn clip được đăng tải với nội dung cầu cứu từ ca sĩ T.H.Đ (14 tuổi) - thành viên nhóm nhạc V.S.

Trong video, nữ ca sĩ trẻ gây chú ý khi lên tiếng tố cáo những góc khuất trong quá trình hoạt động nghệ thuật, đồng thời kêu gọi các cơ quan chức năng vào cuộc để bảo vệ quyền lợi của bản thân và gia đình.

Ca sĩ 14 tuổi T.H.Đ lên tiếng tố cáo bị công ty chèn ép, lạm dụng - Ảnh cắt từ clip

Theo T.H.Đ, bản thân và một số thành viên khác đang bị bạo lực tinh thần, tiếp xúc với những tư tưởng tiêu cực trong quá trình hoạt động dù còn ở độ tuổi rất trẻ. Nữ thiếu niên cho biết khi nhận ra những điều mà em cho là bất công và có ý định phản kháng, các thành viên bị đặt vào tình thế khó khăn bởi những ràng buộc liên quan đến hợp đồng cũng như nhiều áp lực khác. "Đi không được, ở không xong" là cụm từ được nhắc đến trong lời chia sẻ của H.Đ khi nói về hoàn cảnh mà em và các thành viên được cho là đang đối mặt.

Ranh giới giữa đào tạo nghệ thuật và sử dụng lao động

Ngay sau khi đoạn clip của nữ ca sĩ T.H.Đ xuất hiện, câu chuyện nhanh chóng lan truyền trên các nền tảng mạng xã hội và tạo ra nhiều luồng ý kiến trái chiều. Khi nhân vật trung tâm mới 14 tuổi, câu chuyện không chỉ xoay quanh hợp đồng, chi phí đào tạo hay những cam kết nghề nghiệp, mà còn đặt ra câu hỏi về ranh giới giữa đào tạo tài năng trẻ và trách nhiệm bảo vệ trẻ vị thành niên trong ngành công nghiệp giải trí.

Để làm rõ vụ việc dưới góc độ pháp lý, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với Luật sư Nguyễn Hữu Thục - Trưởng Văn phòng Luật sư Thục và Cộng Sự.

Thưa luật sư, trong trường hợp một ca sĩ mới 14 tuổi phản ánh bị áp lực tâm lý, bị phạt tiền hoặc phải thực hiện những yêu cầu không phù hợp trong quá trình đào tạo, pháp luật Việt Nam hiện bảo vệ trẻ em như thế nào?

Nhóm nhạc V.S

Theo Luật Trẻ em, thì trẻ em là người dưới 16 tuổi, do vậy các em là ca sĩ 14 tuổi hoàn toàn được thụ hưởng đầy đủ các cơ chế bảo vệ đặc biệt của Luật Trẻ em, nhằm bảo đảm trẻ em được sống an toàn, lành mạnh, được phát triển đồng thời cả về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và mối quan hệ xã hội của trẻ em.

Việc ép buộc trẻ em phải tuân theo các "quy tắc ngầm", chịu đựng áp lực tâm lý quá mức hoặc áp đặt tư duy sai lệch bị coi là hành vi xâm hại tình cảm và tâm lý của trẻ.

Nếu Công ty dùng các khoản phạt hoặc đe dọa đòi đền bù chi phí đào tạo khổng lồ phi thực tế gây áp lực để ép trẻ 14 tuổi phải chịu đựng, phục tùng, hành vi này có thể phát sinh dấu hiệu của hành vi cưỡng bức lao động hoặc bóc lột sức lao động trẻ em cần được cơ quan có thẩm quyền xác minh, làm rõ. Trong trường hợp này pháp luật quy định người đại diện theo pháp luật (cha, mẹ, người giám hộ) có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố các điều khoản phạt này là vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật.

Về bị phạt tiền, thường trong các hợp đồng đào tạo/quản lý độc quyền nghệ sĩ, các Công ty thường cài cắm các điều khoản phạt tiền nhằm gây áp lực để quản lý hành vi của trẻ. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam quy định rất rõ, tuyệt đối nghiêm cấm phạt tiền, căn cứ theo Điều 127 Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động bị nghiêm cấm tuyệt đối việc áp dụng hình thức phạt tiền, cắt lương thay cho việc xử lý kỷ luật. Do đó, việc Công ty tự đặt ra các mức phạt tiền là trái pháp luật và không có giá trị thi hành.

Ngoài ra pháp luật có cơ chế bảo vệ trước "yêu cầu không phù hợp" và bạo lực tinh thần được kiểm soát nghiêm ngặt: Theo Điều 6 Luật Trẻ em, hành vi bạo lực trẻ em bao gồm lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, cô lập hoặc gây áp lực tâm lý nặng nề bị nghiêm cấm. Việc Công ty xúc phạm hoặc thao túng tâm lý làm tổn hại đến sự phát triển bình thường về nhân cách của trẻ 14 tuổi là hành vi xâm hại trẻ em nghiêm trọng theo Luật Trẻ em.

Hoạt động đào tạo nghệ sĩ nhí có được xem là một dạng lao động trẻ em? Ranh giới giữa đào tạo năng khiếu và sử dụng lao động trẻ em được pháp luật quy định như thế nào, thưa anh?

Dưới góc độ pháp luật lao động Việt Nam, việc xác định hoạt động đào tạo nghệ sĩ nhí (bao gồm ca sĩ, diễn viên, người mẫu nhí...) có phải là lao động trẻ em hay không phụ thuộc rất lớn vào bản chất của mối quan hệ và mục đích thực hiện giữa các bên, chứ không chỉ dựa vào tên gọi "đào tạo" và có ranh giới rõ ràng, nên chúng ta cần phân định chúng thành hai nhóm với bản chất pháp lý khác nhau:

Thứ nhất: Khi hoạt động đào tạo thuần túy mang tính chất giáo dục - năng khiếu thì không xem là lao động trẻ em.

Thứ hai: Nếu việc "đào tạo" được ký kết thông qua các Hợp đồng đào tạo và quản lý độc quyền, trong đó quy định:

Công ty bỏ chi phí đầu tư (đào tạo, ăn ở, trang phục) nhưng đi kèm điều kiện ràng buộc quyền lợi: Trẻ em phải tham gia các buổi ghi hình, sản xuất sản phẩm âm nhạc, đi biểu diễn tại các sự kiện, trường học, chương trình truyền hình... nhằm mục đích thương mại hoặc quảng bá hình ảnh cho Công ty.

Trẻ em phải tuân thủ nghiêm ngặt nội quy nội bộ, chịu sự quản lý, giám sát chặt chẽ về giờ giấc, cân nặng, phát ngôn, và phải chịu các hình thức kỷ luật (như phạt tiền, đình chỉ hoạt động) khi vi phạm.

Mối quan hệ phát sinh thù lao (dù thù lao đó thực nhận hay được Công ty giữ lại để "khấu trừ chi phí đầu tư").

Căn cứ theo Điều 3 Bộ luật Lao động 2019, một quan hệ được coi là quan hệ lao động vì đã có đủ 3 yếu tố: Có thỏa thuận làm việc, có trả lương/thù lao, và có sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên. Do đó, dù Công ty giải trí có gọi văn bản ký kết là "Hợp đồng đào tạo nghệ sĩ", "Hợp đồng hợp tác", "Cam kết bảo trợ"... nhưng bản chất bên trong có sự quản lý hành vi và khai thác sức lao động, năng khiếu nghệ thuật của trẻ để phục vụ lợi ích kinh tế, thì pháp luật sẽ nhìn nhận đây là một dạng sử dụng lao động trẻ em, cụ thể là lao động dưới 15 tuổi.

Nếu phát sinh tranh chấp, liệu người chưa thành niên có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng?

Căn cứ theo khoản 3 và khoản 4 Điều 21 Bộ luật Dân sự 2015, người từ đủ 6 tuổi đến dưới 15 tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.

Vì không có quyền tự mình ký kết các hợp đồng có giá trị hoặc tính chất phức tạp (như hợp đồng đào tạo, quản lý nghệ sĩ), nên trẻ dưới 15 tuổi không thể tự mình thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng. Quyền này bắt buộc phải do người đại diện theo pháp luật nhân danh trẻ em để thực hiện.

Dù là người chưa thành niên không tự thực hiện phải thông qua người đại diện theo pháp luật, thì việc đơn phương chấm dứt hợp đồng phải dựa trên các căn cứ pháp luật rõ ràng theo Điều 428 Bộ luật Dân sự 2015 hoặc căn cứ vào các điều khoản chấm dứt do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng để tránh bị phạt vi phạm hoặc đền bù thiệt hại, nếu có căn cứ cho rằng:

- Bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ như không thanh toán thù lao, không đào tạo đúng cam kết, hoặc vi phạm các nghĩa vụ bảo đảm an toàn tinh thần, sức khỏe cho người chưa thành niên.

- Hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc đạo đức xã hội

- Có quyền yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu: Nếu hợp đồng có nội dung bóc lột, cưỡng bức lao động, hoặc ép buộc người chưa thành niên giao kết khi chưa có sự đồng ý hợp pháp của người đại diện theo pháp luật có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu (theo Điều 123, Điều 125 hoặc Điều 127 Bộ luật Dân sự 2015). Khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu, các bên sẽ hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, và bên người chưa thành niên có thể từ chối các khoản phạt vi phạm hay đền bù vô lý.

Từ vụ việc của ca sĩ T.H.Đ, luật sư nhìn thấy những khoảng trống nào trong việc quản lý hoạt động đào tạo thần tượng, nghệ sĩ vị thành niên tại Việt Nam? Đâu là giới hạn pháp lý mà các Công ty quản lý tuyệt đối không được vượt qua?

Từ vụ việc của T.H.Đ tố cáo bị bạo lực tinh thần và bóc lột tại một Công ty giải trí cho thấy sự phức tạp trong việc bảo vệ trẻ em trước các "quy tắc ngầm" trong các hợp đồng đào tạo nghệ thuật.

Thứ nhất: Sự lập lờ, biến tướng giữa "Hợp đồng đào tạo nghệ thuật" và "Hợp đồng sử dụng lao động". Khoảng trống hiện tại là chưa có một bộ khung tiêu chuẩn quy định rõ ràng: Khi nào một hợp đồng đào tạo bị coi là biến tướng thành hợp đồng lao động để áp dụng Bộ luật Lao động? Các cơ quan thanh tra lao động hiện nay thường chỉ kiểm tra các cơ sở sản xuất, nhà máy, xí nghiệp... chứ rất ít hoặc chưa bao giờ chủ động thanh tra điều kiện làm việc của trẻ em tại các Công ty giải trí, studio, hay các nhóm nhạc tư nhân.

Thứ 2: Thiếu quy định trần đối với chế tài phạt và ràng buộc "độc quyền" áp đặt lên trẻ em:

Thực trạng trong các hợp đồng quản lý độc quyền, các Công ty thường cài cắm các điều khoản phạt vi phạm hợp đồng hoặc đền bù chi phí đầu tư rất lớn (lên tới hàng trăm triệu, thậm chí hàng tỷ đồng) nếu nghệ sĩ nhí tự ý phá vỡ cam kết hoặc vi phạm nội quy (như tăng cân, đi trễ, phát ngôn...). Những quy định mang tính bóc lột kinh tế, phạt tiền thay cho xử lý kỷ luật này rõ ràng vi phạm Bộ luật Lao động nhưng lại được che đậy khéo léo dưới quyền "tự do thỏa thuận dân sự".

Hiện tại pháp luật Dân sự và Lao động hiện nay chưa có quy định trần giới hạn mức bồi thường tối đa đối với các hợp đồng có chủ thể là người chưa thành niên trong lĩnh vực nghệ thuật. Điều này đẩy gia đình và trẻ em vào thế yếu, bị thao túng tâm lý và "cưỡng bức lao động" bằng nỗi sợ nợ nần, sợ bị kiện bồi thường khổng lồ.

Thứ ba: Hiện tại còn "Vùng xám" về bảo vệ sức khỏe tâm thần và kiểm soát thời giờ làm việc đặc thù cho ngành giải trí

Hiện nay, các quy định hiện hành mới chỉ giới hạn thời giờ làm việc của trẻ dưới 15 tuổi (không quá 4 giờ/ngày và 20 giờ/tuần) và cấm làm đêm. Tuy nhiên, đặc thù ngành giải trí như luyện tập vũ đạo, thu âm, đi quay hình, biểu diễn sự kiện...thường diễn ra vào buổi tối, cuối tuần hoặc kéo dài liên tục nhiều giờ liền. Trong khi cơ chế giám sát thực tế thời gian làm việc của các nghệ sĩ nhí gần như bằng không. Đặc biệt, pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có cơ chế định lượng và chế tài xử phạt cụ thể đối với hành vi "bạo lực tinh thần" hoặc "áp bức tâm lý" những hành vi dạy dỗ kiểu chèn ép, hạ thấp nhân phẩm, bắt "biết điều" để đổi lấy show diễn. Đây là dạng tổn thương vô hình nhưng hủy hoại nghiêm trọng nhân cách của trẻ em.

Hiện nay còn nhiều sự sự lập lờ, biến tướng giữa "Hợp đồng đào tạo nghệ thuật" và "Hợp đồng sử dụng lao động" - Ảnh: FBNV ca sĩ T.H.Đ

Thứ tư: Sự chồng chéo, lỏng lẻo trong phối hợp quản lý nhà nước

Thực trạng hoạt động của một Công ty giải trí đào tạo nghệ sĩ nhí liên quan đến rất nhiều bộ ngành: Sở Kế hoạch và Đầu tư (nay là Sở Tài chính) cấp phép mã ngành kinh doanh giáo dục văn hóa nghệ thuật, xúc tiến thương mại; Sở Văn hóa và Thể thao cấp phép biểu diễn; Sở Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Sở Nội vụ) quản lý lao động trẻ em. Trong khi thiếu một cơ chế phối hợp liên ngành hoặc một cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm giám sát toàn diện mô hình này. Khi xảy ra vụ việc, Sở Văn hóa chỉ xem xét chương trình biểu diễn có phép hay không; Sở Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Sở Nội vụ) không can thiệp vì không có hợp đồng lao động rõ ràng; các tổ chức như Hội Bảo vệ Quyền Trẻ em chỉ có vai trò lên tiếng, kiến nghị chứ không có quyền chế tài. Sự đứt gãy này khiến các Công ty dễ dàng lách luật.

Thứ năm: Có một lỗ hổng lớn từ nhận thức và vai trò bảo vệ của người đại diện theo pháp luật, của các bậc phụ huynh.

Ngoài ra để trả lời câu hỏi giới hạn pháp lý mà các Công ty quản lý tuyệt đối không được vượt qua? Theo tôi đó là các giới hạn pháp lý được quy định trong Bộ luật Lao động, Luật Trẻ em và Bộ luật Hình sự nhằm bảo vệ quyền lợi tối cao của trẻ, cụ thể đó là những giới hạn về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi nếu vượt qua có thể phát sinh dấu hiệu bóc lột sức lao động; giới hạn về hình thức kỷ luật và chèn ép kinh tế có thể phát sinh dấu hiệu cưỡng bức lao động; giới hạn về xúc phạm danh dự, nhân phẩm và áp lực tâm lý có thể phát sinh dấu hiệu bạo lực tinh thần; giới hạn về quyền được học tập văn hóa của trẻ em được Luật Trẻ em bảo vệ và giới hạn về tư cách giao kết hợp đồng được Bộ luật Lao động bảo vệ.

Tùy tính chất và mức độ vi phạm, doanh nghiệp có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, bị tuyên vô hiệu một phần hoặc toàn bộ hợp đồng, thậm chí bị xem xét trách nhiệm hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật.

Vụ việc của em T.H.Đ là hồi chuông cảnh tỉnh cho thấy mô hình công nghiệp đào tạo thần tượng đang phát triển tự phát tại Việt Nam và đi trước hệ thống quản lý một bước, cho thấy trẻ em trong lĩnh vực nghệ thuật dễ bị tổn thương bởi các cam kết hợp đồng kinh tế. Để lấp đầy các khoảng trống này, Việt Nam cần sớm ban hành các văn bản hướng dẫn riêng biệt cho "Lao động nghệ thuật chưa thành niên", thiết lập quy trình kiểm duyệt nội dung hợp đồng độc quyền và tăng cường chế tài thanh tra đột xuất các lò đào tạo nghệ sĩ nhí.

Xin trân trọng cảm ơn luật sư!

Nguyễn Phượng

Cùng chuyên mục
XEM