Rời phố về quê, 9X Bắc Ninh hồi sinh giấy dó Đống Cao bằng tư duy số
Rời bỏ công việc văn phòng, cô gái 9X trở về làng Đống Cao nối nghề truyền thống, ứng dụng mạng xã hội và thương mại điện tử để đưa giấy dó tìm lại chỗ đứng.
Clip chia sẻ clip quá trình làm giấy dó được chị Ngô Thu Huyền đăng tải trên Fanpage "Giấy dó Ngô Đức"
Sinh ra trong gia đình nhiều đời gắn bó với nghề làm giấy dó truyền thống, tuổi thơ của Ngô Thu Huyền (SN 1991, ở làng Đống Cao, phường Võ Cường, Bắc Ninh) gắn liền với tiếng nước, tiếng khung xeo và mùi thơm đặc trưng của vỏ dó.
Sau khi tốt nghiệp Khoa Ngoại ngữ, Đại học Phương Đông, chị lựa chọn ở lại TP Hà Nội làm việc. Hai năm gắn bó với môi trường công sở mang đến cho chị sự ổn định, nhưng sâu thẳm trong lòng, hình ảnh xưởng giấy của ông nội vẫn luôn hiện hữu.
“Ngồi trong văn phòng máy lạnh, nhưng tâm trí tôi lại luôn nghĩ về bể bột, về những tờ giấy mỏng manh từng nuôi sống cả gia đình. Tôi nhận ra, nếu mình không trở về thì nghề của ông bà có thể chỉ còn là ký ức” , chị Huyền chia sẻ.
Giữa xưởng nhỏ thoang thoảng mùi vỏ dó, đôi tay chị Huyền miệt mài bên bể bột, thoăn thoắt xeo từng tờ giấy mỏng nhẹ.
Năm 2017, sau nhiều đắn đo, cô gái trẻ quyết định từ bỏ công việc văn phòng với mức lương gần 10 triệu đồng/tháng để về quê nối nghiệp gia đình. Quyết định ấy khiến nhiều người bất ngờ, bởi nghề làm giấy dó vốn vất vả, thu nhập không cao, trong khi cuộc sống nơi đô thị lại đầy hứa hẹn.
“Ai cũng bảo tôi liều, nhưng tôi nghĩ nếu thế hệ trẻ không tiếp nối thì làng nghề rồi sẽ mất đi. Mình còn trẻ thì còn có thể thử, còn có thể giữ lại những giá trị mà cha ông để lại”, chị Huyền nói.
Thời điểm ấy, nghề làm giấy dó ở Đống Cao đối mặt nhiều khó khăn. Số hộ bám nghề ngày càng ít, đầu ra bấp bênh, thu nhập không ổn định.
Dù lớn lên trong gia đình nhiều đời làm giấy dó, Huyền vẫn phải học lại gần như từ đầu. Từ ngâm vỏ dó, giã bột, lọc nguyên liệu đến xeo giấy (dùng khuôn vớt và dàn đều bột giấy thành tờ), công đoạn nào cũng đòi hỏi sự tỉ mỉ và kinh nghiệm.
Là phụ nữ, những ngày đầu theo nghề với chị không hề dễ dàng. Suốt ngày chân lấm tay bùn, đôi tay chai sạn vì thường xuyên ngâm trong nước. Những ngày mùa đông, chị phải đứng hàng giờ bên bể bột lạnh buốt, hai bàn tay tê cứng đến mất cảm giác.
"Nhiều hôm trời rét cắt da cắt thịt, tay ngâm trong nước lạnh hàng giờ liền. Có lúc nhấc tay lên mà không còn cảm giác gì nữa", chị nhớ lại.
Vỏ dó được ngâm kỹ trong nước để làm mềm sợi và loại bỏ tạp chất - bước khởi đầu quan trọng trong quy trình sản xuất giấy dó thủ công.
Khó khăn không chỉ đến từ sản xuất mà còn nằm ở đầu ra. Có thời điểm, mỗi tháng xưởng chỉ bán được vài trăm tờ giấy, doanh thu chưa tới 20 triệu đồng, không đủ bù chi phí nguyên liệu, điện nước và nhân công.
Thị trường khi đó khá hẹp, chủ yếu là người chơi thư pháp và một số nghệ nhân truyền thống. Sản phẩm thủ công có giá cao hơn giấy công nghiệp nên không dễ tiếp cận khách hàng đại trà.
"Nhiều lô hàng làm xong nhưng bán rất chậm. Có khách đặt rồi lại hủy vào phút cuối. Có tháng gần như không có thu nhập", chị Huyền kể.
Trước thực tế đó, Huyền buộc phải thay đổi. Ngoài dòng giấy dó truyền thống, chị phát triển thêm nhiều sản phẩm mới như giấy dó vân lá ngải cứu, giấy màu tự nhiên, thiệp thủ công, sổ tay, túi giấy và các sản phẩm quà tặng.
Những tờ giấy dó mang màu trắng ngà đặc trưng được phơi dưới nắng gió tự nhiên để đạt được độ bền.
Giấy dó được dùng trong việc bảo tồn tranh dân gian Đông Hồ, cũng như phục chế sắc phong, thần phả, gia phả tại nhiều cơ quan lưu trữ, bảo tàng và di tích trên cả nước.
Đặc biệt, năm 2019, chị bắt đầu đưa sản phẩm lên mạng xã hội và các sàn thương mại điện tử. Chị xây dựng Fanpage "Giấy dó Ngô Đức", thường xuyên đăng tải các video về quy trình xeo giấy, phơi giấy và câu chuyện làng nghề. Nhờ đó, sản phẩm dần tiếp cận nhiều khách hàng trẻ, đặc biệt là các họa sĩ, nhà thiết kế và người yêu sản phẩm thủ công truyền thống.
Thay vì chỉ tập trung vào khách chơi thư pháp, Huyền mở rộng tệp khách hàng sang họa sĩ, trường mỹ thuật, kiến trúc sư, đơn vị quà tặng doanh nghiệp và khách hàng yêu thích sản phẩm thân thiện với môi trường.
Bên cạnh đó, chị còn chủ động điều chỉnh độ dày, mỏng của giấy theo yêu cầu riêng của từng khách hàng, phục vụ nhu cầu vẽ tranh, in ấn, phục chế tài liệu và in kinh Phật.
Trang Fanpage "Giấy dó Ngô Đức" được Huyền lập nên để tiếp cận khách hàng trẻ.
Sau hơn 3 năm kiên trì đổi mới, xưởng giấy của Huyền dần có đầu ra ổn định. Hiện cơ sở cung cấp hàng nghìn tờ giấy cùng nhiều sản phẩm thủ công mỗi tháng cho khách hàng tại Hà Nội,, Đà Nẵng, TP.HCM và một số đơn hàng xuất khẩu sang Nhật Bản, châu Âu.
Ngoài những điểm bán cố định, Ngô Thu Huyền đã ứng dụng công nghệ số để chủ động tìm kiếm và kết nối với khách hàng. Không gian mạng trở thành kênh đắc lực để chủ thương hiệu Giấy dó Ngô Đức kể câu chuyện về văn hóa làng nghề, phô diễn những ứng dụng mới của giấy dó và tương tác trực tiếp với giới trẻ - thế hệ gắn liền với smartphone và internet.
Ngô Thu Huyền giới thiệu cách làm giấy dó tại một sự kiện lớn ở Hà Nội.
Sản phẩm giấy dó bồi hoa lá để làm bưu thiếp hoặc bìa sổ.
Hiện nay, xưởng giấy dó của chị tạo việc làm thường xuyên cho 4-5 lao động địa phương. Dù quy mô chưa lớn nhưng hoạt động sản xuất đã mang lại lợi nhuận ổn định, đặc biệt vào các dịp cao điểm.
Theo chị Huyền, khách hàng ngày nay không chỉ quan tâm đến chất lượng sản phẩm mà còn chú ý đến giá trị văn hóa phía sau mỗi tờ giấy. Vì vậy, ngoài bán hàng, chị còn đón khách tham quan, trải nghiệm xeo giấy tại xưởng.
"Giữ nghề bây giờ không chỉ cần tình yêu, mà còn phải biết thích ứng với thị trường và thay đổi cách làm", chị nói.
Sau gần 10 năm trở về quê, chị Ngô Thu Huyền đã gây dựng được lượng khách hàng ổn định, đưa giấy dó Đống Cao đến gần hơn với thị trường hiện đại.
Với chị, giữ nghề không chỉ là mưu sinh, mà còn là gìn giữ ký ức gia đình và hồn cốt làng nghề. Hành trình của chị cho thấy, di sản chỉ thực sự sống bền vững khi được tiếp nối bằng tình yêu, tư duy đổi mới và khát vọng của thế hệ trẻ.







