Ở nơi người dân được mua vàng với giá rẻ hơn gần 20 triệu đồng, bài học từ 'phòng thí nghiệm mở cửa' của Trung Quốc

| Kinh tế vĩ mô

Một tuần nghỉ lễ, hải quan Hải Nam giám sát 855 triệu nhân dân tệ hàng miễn thuế. Đằng sau con số đó là một hòn đảo được Trung Quốc dùng làm “phòng thí nghiệm mở cửa” suốt gần bốn thập kỷ.

Thành phố Tam Á, đảo Hải Nam, Trung Quốc. (Ảnh: Trần Chung).

Bên trong một cửa hàng của Chow Tai Fook (đế chế kim hoàn và trang sức hàng đầu Trung Quốc) ở Trung tâm Mua sắm miễn thuế quốc tế Tam Á (cdf Tam Á), Hải Nam, nhiều khách đang đứng chờ đến lượt để xem vàng.

Dù là ngày làm việc trong tuần (chiều Thứ 5) nhưng một nhân viên tại cửa hàng cho biết lượng khách hàng tới đông và anh khá bận khi đứng tư vấn liên tục cho họ về các sản phẩm vàng.

Lý do cho sự nhộn nhịp này nằm ở bảng giá. Cùng một món trang sức vàng, khách mua tại đây có thể trả thấp hơn tới 5.000 nhân dân tệ so với thị trường bên ngoài, tương đương hơn 19 triệu Việt Nam đồng.

Thậm chí, càng mua sản phẩm đắt tiền, khách càng được lợi bởi chính sách miễn thuế được áp dụng trên đảo Hải Nam.

Theo đó, trong 1 năm Dương lịch, cư dân trên đảo được mua sản phẩm miễn thuế có tổng giá trị không vượt quá 100.000 nhân dân tệ, khoảng 387 triệu đồng. Còn khách nước ngoài được mua tối đã 5 sản phẩm/hộ chiếu cho mỗi lần xuất cảnh, và mỗi sản phẩm không vượt quá 20.000 nhân dân tệ.

Một cửa hàng bán trang sức tại trung tâm mua sắm miễn thuế trên đảo Hải Nam, Trung Quốc. (Ảnh: Trần Chung)

Tại sao lại là Hải Nam?

Chính sách trên đã kích thích tiêu dùng tại Hải Nam một cách ấn tượng. 

Theo thống kê, từ ngày 1 đến 7/10, cơ quan hải quan địa phương đã giám sát 855 triệu nhân dân tệ (khoảng 128 triệu USD) giao dịch mua sắm miễn thuế ngoài khơi, với 123.000 lượt khách và 696.800 món hàng.

Trong kỳ nghỉ Quốc khánh Trung Quốc (1/10) đầu tiên kể từ khi Hải Nam vận hành cơ chế hải quan đặc biệt trên toàn đảo, hệ thống cửa hàng của Tập đoàn Miễn thuế Trung Quốc (trong đó có cdf Tam Á) đã đón hơn 720.000 lượt khách, tăng 21% so với cùng kỳ năm ngoái.

Trước đó, hồi cuối năm 2025, Cảng Thương mại Tự do (FTP) Hải Nam đã chính thức khởi động vận hành khép kín toàn đảo. Với 8 cửa khẩu đối ngoại và 10 cơ sở giám sát “cửa khẩu tuyến hai”, mô hình tại đây được giới thiệu là “tuyến một thả lỏng, tuyến hai quản chặt, tự do trong đảo”.

Nhờ đó, tỷ lệ dòng thuế hàng hóa được vào diện “thuế quan bằng 0” tăng từ 21% lên 74% với trên 6.600 dòng thuế.

Bên ngoài một trung tâm mua sắm trên đảo Hải Nam. (Ảnh: Trần Chung)

Xét về vị trí, quy mô kinh tế của Hải Nam chỉ xếp thứ 28 trong 31 tỉnh/thành của Trung Quốc; chiếm khoảng 0,58% GDP cả nước. Tuy nhiên, đảo này đang được chọn là một 'phòng thí nghiệm mở cửa' của quốc gia tỷ dân.

Lý giải cho lựa chọn này của Trung Quốc, TS Nguyễn Thái Chuyên, giảng viên Kinh doanh quốc tế, Đại học RMIT Việt Nam chỉ ra các điểm đáng lưu tâm.

Thứ nhất là lợi thế địa lý tự nhiên. Hải Nam là hòn đảo rộng hơn 33.000km2 và được biển bao quanh, thuận lợi cho việc thiết lập khu vực giám sát hải quan đặc biệt.

Nhờ đó, cơ chế “tuyến một mở cửa, tuyến hai quản lý” cho phép hàng hóa quốc tế vào đảo thuận lợi hơn nhưng vẫn kiểm soát hàng vào đại lục, giúp quản lý rủi ro khi mở cửa.

Thứ hai là không gian thử nghiệm có kiểm soát. Với quy mô kinh tế tương đối nhỏ và ít phụ thuộc vào công nghiệp nặng, Hải Nam thuận lợi cho việc thí điểm chính sách trước khi nhân rộng. Đây là sự tiếp nối cách tiếp cận cải cách từng áp dụng tại Thâm Quyến.

Thứ ba là vị trí địa kinh tế hướng tới ASEAN. Nằm gần Đông Nam Á và các tuyến hàng hải, Hải Nam có thể kết nối chuỗi cung ứng khu vực.

Theo chính quyền địa phương, thương mại Hải Nam – ASEAN đã đạt 57,91 tỷ nhân dân tệ (khoảng 8,7 tỷ USD) từ năm 2024, tăng 62,3% so với năm trước đó. Khi chủ nghĩa bảo hộ gia tăng trên toàn cầu, đây cũng là cách Trung Quốc duy trì kết nối kinh tế quốc tế.

Thứ tư là tìm động lực tăng trưởng mới. Hải Nam ưu tiên du lịch, dịch vụ hiện đại, công nghệ cao và nông nghiệp nhiệt đới.

Đáng chú ý, gói chính sách tại đây khá cạnh tranh như: miễn thuế cho 74% hàng nhập khẩu; thuế thu nhập doanh nghiệp thuộc ngành khuyến khích 15% (thay vì 25%); và thuế thu nhập cá nhân 15% với lao động tay nghề cao.

Đặc biệt, hàng hóa đáp ứng điều kiện gia công tạo giá trị gia tăng từ 30% tại Hải Nam có thể được miễn thuế nhập khẩu khi đưa vào đại lục. Điều này khuyến khích doanh nghiệp thực hiện thêm các công đoạn sản xuất, thay vì đơn thuần nhập khẩu rồi tái xuất.

Thứ năm là quyết tâm chính sách và tầm nhìn dài hạn. Việc phát triển Hải Nam thành Cảng Thương mại tự do là kết quả của quá trình cải cách xuyên suốt nhiều thập kỷ.

Từ một đặc khu kinh tế năm 1988, Hải Nam được định hướng chuyển sang mô hình mở cửa sâu rộng hơn vào năm 2018, với lộ trình phát triển đến năm 2035 và giữa thế kỷ XXI đã được cụ thể hóa vào năm 2020. Chính sự nhất quán này góp phần tạo dựng môi trường chính sách ổn định, củng cố niềm tin của các nhà đầu tư quốc tế.

Hải Nam đang được Trung Quốc chọn là một 'phòng thí nghiệm mở cửa'. (Ảnh: Trần Chung)

Bài học từ một hòn đảo

Tại TP.HCM, Khu thương mại tự do gắn với cảng Cái Mép Hạ đã chính thức được thành lập vào tháng 7/2026. Trước đó, vào năm 2025, các khu thương mại tự do tại Đà Nẵng và Hải Phòng cũng đã ra đời.

Do đó, theo TS Nguyễn Thái Chuyên, câu chuyện kinh tế trên đảo Hải Nam, Trung Quốc có thể đưa ra những gợi ý nếu muốn phát triển các mô hình tương tự.

Trước hết , lấy chất lượng thể chế làm lợi thế cạnh tranh. Hải Nam cho thấy ưu đãi thuế chỉ là một phần của chính sách mở cửa. Điều doanh nghiệp cần còn là thủ tục thông quan hiệu quả, môi trường pháp lý minh bạch và khả năng dự báo dài hạn.

Việt Nam vì thế cần ưu tiên cải cách hành chính, số hóa hải quan và nâng cao năng lực thực thi, thay vì chỉ cạnh tranh bằng mức ưu đãi.

TS Nguyễn Thái Chuyên, giảng viên Kinh doanh quốc tế, Đại học RMIT Việt Nam.

Thứ hai , phát triển khu thương mại tự do phải dựa trên lợi thế riêng của từng địa phương.

Đơn cử, Đà Nẵng có thể kết hợp logistics với công nghệ và dịch vụ quốc tế, còn Hải Phòng có lợi thế về cảng biển, công nghiệp và chuỗi cung ứng. Việc định vị khác biệt sẽ giúp tránh cạnh tranh ưu đãi giữa các địa phương và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực.

Thứ ba , mở cửa sâu hơn phải đi đôi với năng lực quản trị rủi ro. Cơ chế hai tuyến của Hải Nam cho thấy tự do hóa không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý.

Việt Nam cần phát triển hải quan thông minh, kết nối dữ liệu liên ngành và tăng cường kiểm soát gian lận xuất xứ, đặc biệt khi doanh nghiệp đang tham gia ngày càng sâu vào chuỗi cung ứng quốc tế.

Thứ tư , chính sách ưu đãi phải gắn với giá trị gia tăng thực chất. Quy tắc gia công 30% của Hải Nam gợi mở cách khuyến khích chế biến sâu và phát triển các hoạt động sản xuất có giá trị cao hơn.

Đối với Việt Nam, thu hút FDI cần gắn với phát triển nhà cung ứng nội địa, chuyển giao kỹ năng và nâng cao năng suất. Đồng thời, cần kiểm soát đầu cơ bất động sản để tránh việc lợi ích từ ưu đãi chỉ tập trung vào đất đai thay vì sản xuất.

Thứ năm , Việt Nam có thể biến Hải Nam thành cơ hội kinh doanh trực tiếp. Theo Bộ Công Thương, thương mại Việt Nam – Hải Nam đạt khoảng 1,4 tỷ USD năm 2025, chỉ chiếm 0,48% tổng thương mại Việt – Trung, nên dư địa còn lớn.

Việt Nam đã khai trương Văn phòng Xúc tiến thương mại tại thành phố Hải Khẩu, Hải Nam và nông sản, thực phẩm chế biến, hàng tiêu dùng là những nhóm hàng có thể tận dụng cửa ngõ này.

Do đó, việc cần làm, theo thành viên Đại học RMIT,  là doanh nghiệp cần chuẩn hóa chất lượng, truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu để có thêm sản phẩm vào thị trường này.

Trần Chung

Cùng chuyên mục
XEM