Người đàn ông phát hiện ung thư trực tràng sớm nhờ 1 triệu chứng

| Sống

Nam bệnh nhân 48 tuổi đã phát hiện ung thư trực tràng ở giai đoạn sớm nhờ đi khám khi có triệu chứng.

Bệnh nhân N.V.T., nam, 48 tuổi, đến thăm khám sau khi xuất hiện tình trạng đại tiện ra máu. Người bệnh có tiền sử từng phẫu thuật cắt trĩ trước đó 3 năm.

Qua nội soi, các bác sĩ phát hiện tổn thương loét sùi cách rìa hậu môn khoảng 8 cm, kích thước khoảng 2 x 3 cm. Kết quả chụp cắt lớp vi tính cho thấy hình ảnh dày thành trực tràng mức độ trung bình, khối u còn khu trú. Kết quả giải phẫu bệnh xác định tổn thương là ung thư biểu mô tuyến.

Từ kết quả thăm khám lâm sàng và các xét nghiệm cận lâm sàng gồm nội soi, chẩn đoán hình ảnh và giải phẫu bệnh, người bệnh được chẩn đoán ung thư trực tràng giai đoạn sớm.

Theo bác sĩ Trần Đình Tân, Bệnh viện K, đây là trường hợp khối u có kích thước tương đối nhỏ và ở giai đoạn sớm nên khó nhận diện trực tiếp bằng mắt thường trong quá trình phẫu thuật. Vì vậy, ê-kíp lựa chọn kết hợp công nghệ huỳnh quang ICG (Indocyanine Green) với hệ thống phẫu thuật robot Da Vinci Xi nhằm hỗ trợ định vị tổn thương và thực hiện các bước phẫu thuật.

Trong quá trình mổ, dưới chế độ quan sát huỳnh quang, tín hiệu ICG giúp phẫu thuật viên nhận diện vị trí khối u, đặc biệt trong trường hợp tổn thương nhỏ, khó quan sát trên bề mặt.

Bên cạnh đó, kỹ thuật này còn hỗ trợ quan sát đường dẫn lưu bạch huyết của vùng tổn thương, cung cấp thêm thông tin cho phẫu thuật viên trong quá trình xác định phạm vi vét hạch theo nguyên tắc điều trị ung thư.

Bệnh nhân sau ca phẫu thuật, ảnh BSCC.

Trực tràng nằm sâu trong vùng tiểu khung, nơi không gian thao tác tương đối hạn chế và tập trung nhiều cấu trúc giải phẫu quan trọng. Hệ thống robot cung cấp hình ảnh phẫu trường phóng đại, rõ nét và khả năng điều khiển dụng cụ linh hoạt, hỗ trợ phẫu thuật viên thực hiện các thao tác bóc tách, cắt nối và xử lý tổn thương trong không gian hẹp.

Bác sĩ Trần Đình Tân cho hay, công nghệ hiện đại chỉ phát huy giá trị khi được sử dụng đúng chỉ định và kết hợp với đánh giá toàn diện về đặc điểm khối u, giai đoạn bệnh và giải phẫu của từng người bệnh.

Mục tiêu của phẫu thuật vẫn là tuân thủ các nguyên tắc ung thư học, đồng thời bảo đảm an toàn và tối ưu hóa kết quả điều trị cho người bệnh.

Không bỏ qua những dấu hiệu tưởng như quen thuộc

Ung thư đại trực tràng liên quan đến nhiều yếu tố, trong đó có chế độ ăn uống, tổn thương tiền ung thư và yếu tố di truyền.

Chế độ dinh dưỡng: Chế độ ăn nhiều thịt, mỡ động vật, ít chất xơ có thể làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng. Một số thực phẩm chứa hóa chất có khả năng gây ung thư như benzopyren, nitrosamin cũng được xem là yếu tố nguy cơ. Chế độ ăn thiếu một số vitamin và canxi có thể góp phần làm tăng nguy cơ.

Tổn thương tiền ung thư: Người mắc viêm đại trực tràng chảy máu hoặc bệnh Crohn kéo dài có nguy cơ ung thư hóa. Một số loại polyp đại trực tràng, đặc biệt polyp tuyến, có thể là tổn thương tiền ung thư; nguy cơ tăng khi polyp có kích thước lớn.

Yếu tố di truyền: Một số hội chứng di truyền làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng, như bệnh đa polyp tuyến gia đình (FAP), hội chứng Peutz-Jeghers và Gardner. Trong đó, FAP đặc trưng bởi sự xuất hiện rất nhiều polyp trong đại trực tràng và phần lớn trường hợp có nguy cơ ung thư hóa từ sớm.

Việc nhận diện các yếu tố nguy cơ giúp chủ động thăm khám, tầm soát và phát hiện sớm bệnh.

Bác sĩ Tân lưu ý, ung thư trực tràng có thể biểu hiện bằng những triệu chứng dễ bị nhầm lẫn với các bệnh lý vùng hậu môn - trực tràng thường gặp, trong đó có đại tiện ra máu.

Đặc biệt, ở những người từng mắc bệnh lý hậu môn - trực tràng như trĩ, tình trạng chảy máu khi đi ngoài càng dễ được quy cho nguyên nhân cũ. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp đại tiện ra máu đều xuất phát từ bệnh trĩ.

Khi triệu chứng xuất hiện kéo dài, tái diễn hoặc đi kèm những thay đổi bất thường trong thói quen đại tiện, người bệnh cần được thăm khám để xác định nguyên nhân.

Trong điều trị ung thư, phát hiện bệnh là bước đầu tiên. Việc lựa chọn chiến lược điều trị phù hợp với từng trường hợp và từng giai đoạn bệnh cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình điều trị.

Theo Ngọc Minh

Cùng chuyên mục
XEM