Lãi suất tiết kiệm ngày 1/11 tại Agribank, Vietcombank, BIDV, VietinBank, MB, VPBank, Techcombank, Sacombank, HDBank,...
Mặt bằng lãi suất tiết kiệm trực tuyến tiếp tục phân hóa mạnh giữa các ngân hàng và kỳ hạn. Nếu như nhóm dẫn đầu ở kỳ hạn 12 tháng cùng niêm yết 7%/năm thì tại kỳ hạn 18 tháng, VPBank đưa ra mức 7,4%/năm, cao nhất trong bảng lãi suất tổng hợp.
Nhóm lãi suất cao tập trung ở kỳ hạn từ 6 tháng trở lên
Theo bảng lãi suất huy động tiết kiệm trực tuyến niêm yết ngày 31/10/2026, mức lãi suất 7%/năm xuất hiện tại nhiều ngân hàng, nhưng không đồng đều giữa các kỳ hạn.
Ở kỳ hạn 6 tháng, VCBNeo dẫn đầu với 7%/năm. PGBank niêm yết 6,9%/năm; BVBank và Sacombank cùng áp dụng 6,7%/năm. Nhóm Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank và VPBank cùng ở mức 6,6%/năm.
Sang kỳ hạn 9 tháng, MBV và VCBNeo cùng niêm yết 7%/năm. PGBank đứng kế tiếp với 6,9%/năm, trong khi BVBank và Sacombank cùng đạt 6,7%/năm. Các ngân hàng Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank và VPBank tiếp tục duy trì mức 6,6%/năm.
Tại kỳ hạn 12 tháng, nhóm có lãi suất cao nhất gồm MBV, PGBank, Sacombank, VCBNeo và VIB, cùng niêm yết 7%/năm. BVBank theo sau với 6,9%/năm; Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank cùng áp dụng 6,8%/năm.
Một số ngân hàng khác cũng có mức lãi suất từ 6,5%/năm trở lên ở kỳ hạn này, gồm LPBank, Saigonbank và VPBank cùng ở mức 6,7%/năm; Bắc Á Bank đạt 6,6%/năm và OCB niêm yết 6,5%/năm.
Đáng chú ý, ở kỳ hạn 18 tháng, VPBank vươn lên mức 7,4%/năm, cao nhất trong bảng. MBV, Sacombank và VCBNeo cùng niêm yết 7%/năm; Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank và PGBank cùng đạt 6,8%/năm.
Diễn biến này cho thấy nhóm lãi suất cao không chỉ xuất hiện ở kỳ hạn dài. Một số ngân hàng đã niêm yết từ 6,5%/năm trở lên ngay ở kỳ hạn 6 tháng, trong khi mức 7%/năm được ghi nhận ở nhiều kỳ hạn từ 6 đến 12 tháng.
Kỳ hạn 3 tháng: Mặt bằng phổ biến là 4,75%/năm
Trái với sự phân hóa ở nhóm kỳ hạn dài, lãi suất 3 tháng tập trung nhiều hơn quanh mức 4,75%/năm.
Mức này được ghi nhận tại Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank, Bắc Á Bank, BaoVietBank, BVBank, MBV, MSB, Nam A Bank, NCB, OCB, PGBank, Sacombank, Saigonbank, TPBank, VCBNeo, Viet A Bank và VPBank.
Một số ngân hàng niêm yết thấp hơn đáng kể. GPBank áp dụng 3,7%/năm, SeABank 3,95%/năm và ABBank 4%/năm. KienlongBank niêm yết 4,2%/năm; HDBank 4,3%/năm; VIB 4,45%/năm. ACB và PVcomBank cùng ở mức 4,5%/năm.
Trong khi đó, LPBank và Techcombank cùng niêm yết 4,55%/năm; Vietbank áp dụng 4,6%/năm, còn MB và Vikki Bank cùng ở mức 4,7%/năm. SCB có mức lãi suất thấp nhất kỳ hạn này, ở mức 0,1%/năm.
Lãi suất niêm yết không phản ánh toàn bộ mức thực tế
Bên cạnh biểu lãi suất công khai, mức lãi suất khách hàng được giới thiệu khi liên hệ trực tiếp với nhân viên ngân hàng có thể khác nhau tùy số tiền gửi, kỳ hạn và điều kiện đi kèm.
Theo thông tin khảo sát trên thị trường, nhân viên một số ngân hàng có thể chào mời mức lãi suất lên tới 8–9%/năm. Tuy nhiên, đây là mức được chào mời trong những điều kiện nhất định, không đồng nghĩa với lãi suất niêm yết áp dụng đại trà cho mọi khách hàng.
Vì vậy, người gửi tiền cần xác nhận rõ mức lãi suất thực nhận, kỳ hạn áp dụng, số tiền gửi tối thiểu và các điều kiện liên quan trước khi quyết định. Việc so sánh cũng nên dựa trên cùng kỳ hạn và cùng phương thức gửi để tránh nhầm lẫn giữa các sản phẩm tiền gửi.

