FDI chiếm 70-72% xuất khẩu nhưng doanh nghiệp Việt vẫn đứng ngoài chuỗi cung ứng
Khu vực FDI hoạt động mạnh mẽ ở Việt Nam nhưng phần lớn doanh nghiệp nội vẫn đứng ngoài chuỗi cung ứng của họ vì nghịch lý "con gà - quả trứng": chưa đủ năng lực để tham gia, nhưng khó nâng cấp năng lực nếu không có cơ hội tham gia.
Chưa tới 0,1% doanh nghiệp Việt có thể bán hàng trực tiếp cho các tập đoàn lớn.
Loay hoay ở khâu giá trị thấp
Theo số liệu từ Bộ Công thương, VCCI, trong hơn 1 triệu doanh nghiệp hoạt động, chỉ khoảng 5.000 doanh nghiệp kết nối trực tiếp với các tập đoàn đa quốc gia (FDI). Trong số đó, khoảng 300 doanh nghiệp là nhà cung cấp cấp 1 hoặc cấp 2, và chỉ khoảng 100 doanh nghiệp có thể bán hàng trực tiếp cho các tập đoàn lớn, tỉ lệ này chưa tới 0,1%.
Tại hội thảo 'Mở khóa tăng trưởng - Động lực từ kinh tế tư nhân' mới đây, các chuyên gia đặt ra vấn đề làm thế nào để giúp doanh nghiệp Việt Nam từng bước dịch chuyển khỏi vai trò gia công đơn thuần, tiến lên các khâu tạo giá trị gia tăng cao hơn như thiết kế sản phẩm, phát triển vật liệu, sản xuất linh kiện cốt lõi và từng bước làm chủ các công nghệ nền tảng.
Phân tích nguyên nhân khiến doanh nghiệp Việt Nam chưa tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, ông Phạm Văn Quân, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương), cho rằng vẫn tồn tại nhiều điểm nghẽn.
Theo ông, yếu tố đầu tiên là "buôn có bạn, bán có phường". Ông dẫn ví dụ, các chính sách ưu đãi đầu tư của Việt Nam có thể chưa vượt trội so với Ấn Độ hay Indonesia, nhưng Việt Nam vẫn thu hút được nhiều doanh nghiệp Hàn Quốc. Lý do nằm ở việc Việt Nam đã hình thành được hệ sinh thái phù hợp cho các nhà đầu tư Hàn Quốc, với mạng lưới công nghiệp hỗ trợ tương đối phát triển, tạo sức hấp dẫn đối với doanh nghiệp nước này.
Ông Quân cũng cho rằng "nhiều doanh nghiệp không hẳn thiếu vốn", song bài toán lớn nằm ở việc duy trì chất lượng sản phẩm ổn định.
Thực tế cho thấy có những doanh nghiệp đáp ứng tốt yêu cầu trong những năm đầu tham gia chuỗi cung ứng, nhưng sau đó chất lượng sản phẩm không còn đồng đều do công tác quản trị chuỗi chưa hiệu quả, dù bản thân chủ doanh nghiệp không mong muốn điều đó xảy ra.
"Nước ngoài thì chỉ cần một lần là người ta sẽ cho ra khỏi chuỗi, trong khi trước đó mất rất nhiều thời gian mới vào, có khi 3 - 5 năm, phải thay đổi rất nhiều về công nghệ, quy trình quản lý", ông Quân nói, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp.
Vị chuyên gia cũng cho rằng thu hút FDI là một trong những thành tựu nổi bật của nền kinh tế Việt Nam thời gian qua. Hiện khu vực FDI đóng góp khoảng 20% GDP, chiếm 70-72% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước và tạo ra phần lớn các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao. Dù vậy, theo ông, khoảng cách năng lực giữa doanh nghiệp nội địa và khối FDI vẫn còn khá lớn.
"Hiệu ứng lan tỏa về công nghệ, tri thức quản trị từ khu vực FDI sang doanh nghiệp nội địa vẫn thấp hơn nhiều so với kỳ vọng. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn gặp khó khăn trong việc tham gia sâu vào chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng toàn cầu", ông Quân nhận định.
Bên cạnh đó, năng lực tự chủ về công nghiệp hỗ trợ còn yếu khiến Việt Nam vẫn phải nhập khẩu lượng lớn linh kiện, phụ tùng và nguyên vật liệu đầu vào. Tỷ lệ nội địa hóa ở nhiều ngành công nghiệp trọng điểm hiện vẫn ở mức thấp.
Theo ông Quân, thực trạng này bắt nguồn từ cả nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan. Về phía các tập đoàn đa quốc gia, khi đầu tư vào Việt Nam, họ thường mang theo hệ thống nhà cung ứng đã được xây dựng từ trước. Trong khi đó, phần lớn doanh nghiệp tư nhân trong nước là doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn hạn chế về vốn, công nghệ cũng như nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao.
"Đây là nghịch lý "con gà - quả trứng". Khi chưa đủ năng lực tham gia chuỗi cung ứng, doanh nghiệp không có nguồn doanh thu đủ lớn để tái đầu tư, nâng cấp công nghệ. Nhưng nếu không chủ động đổi mới công nghệ và chứng minh được năng lực sản xuất ở quy mô lớn, họ cũng khó có cơ hội bước vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia", ông Quân phân tích.
Đông nhưng chưa mạnh
Sức chống chịu của khu vực kinh tế tư nhân còn yếu.
Ở góc độ khác, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký kiêm Trưởng ban Pháp chế VCCI, cho rằng khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam đã mở rộng đáng kể về số lượng nhưng vẫn chưa tạo được những doanh nghiệp có quy mô và tầm vóc tương xứng. Điểm nghẽn cốt lõi nằm ở thực trạng "đông về lực lượng nhưng nhỏ về quy mô".
Theo Báo cáo Kinh tế tư nhân năm 2025, trong hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, doanh nghiệp tư nhân chiếm 96,6%. Trong số này, hơn 80% có dưới 50 lao động và hơn 70% có vốn dưới 10 tỷ đồng. Quy mô nhỏ khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tích lũy nguồn lực, mở rộng sản xuất và nâng cao năng suất.
Tỷ lệ doanh nghiệp rời khỏi thị trường cũng đang gia tăng, trong khi phần lớn doanh nghiệp hiện hữu chưa sẵn sàng cho các kế hoạch mở rộng hoạt động. Năm 2025, có 297.500 doanh nghiệp gia nhập thị trường nhưng cũng có tới 227.200 doanh nghiệp rút lui.
Ông Tuấn cho biết doanh nghiệp hiện đối mặt với nhiều thách thức, trong đó nổi bật là bài toán thị trường đầu ra. Hơn 60% doanh nghiệp xem việc tìm kiếm khách hàng là khó khăn lớn nhất, phản ánh áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt và cho thấy những sức ép từ thị trường đang vượt lên trên nhiều rào cản hành chính truyền thống.
Chưa hết, tiếp cận nguồn vốn tiếp tục là một điểm nghẽn mang tính cấu trúc đối với doanh nghiệp tư nhân. Hệ thống tín dụng hiện hành vẫn phụ thuộc quá nhiều vào tài sản thế chấp thay vì đánh giá dựa trên dòng tiền, phương án kinh doanh hay tiềm năng tăng trưởng thực tế của doanh nghiệp.
Báo cáo còn cho thấy, hộ kinh doanh không phải là thành phần kinh tế thứ yếu, mà thực sự là một mạng lưới sinh kế khổng lồ của nền kinh tế và là nguồn lực quan trọng của kinh tế tư nhân. Thế nhưng, phần lớn các hộ vẫn nỗ lực duy trì hoạt động với biên lợi nhuận mỏng và tâm thế phòng thủ, phản ánh sức chống chịu của khu vực này là hiện hữu nhưng đang có dấu hiệu bị bào mòn.
“Tiến trình chuyển đổi hộ kinh doanh lên doanh nghiệp sẽ khó đạt tốc độ kỳ vọng nếu chi phí tuân thủ vẫn lấn át những lợi ích mang lại. Rào cản lớn nhất không xuất phát từ việc thiếu động lực vươn lên, mà đến từ tâm lý e ngại các nghĩa vụ về thuế, kế toán, bảo hiểm và tần suất thanh kiểm tra sau khi chính thức hóa”, ông nói.

