Các quốc gia nhóm OECD ‘mắc kẹt’ trong hóa đơn trả lãi vay tới 2.000 tỷ USD/năm
Riêng năm 2025, tổng hóa đơn trả lãi nợ của nhóm các nước thuộc OECD đã vượt 2.000 tỷ USD, tương đương 3% GDP.
Tổng số tiền Chính phủ Mỹ đang nợ đã chạm mức kỷ lục 40.000 tỷ USD vào tháng trước. Trong năm nay, các quốc gia OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế ( OECD ) hiện có tổng cộng 38 quốc gia thành viên, chủ yếu là các nền kinh tế phát triển và thu nhập cao trên thế giới) dự kiến vay tổng cộng 18.000 tỷ USD, một kỷ lục khác. Riêng năm 2025, tổng hóa đơn trả lãi nợ của nhóm này đã vượt 2.000 tỷ USD, tương đương 3% GDP.
Con số này được dự báo tiếp tục tăng trong những năm tới. Nguyên nhân là làn sóng bán tháo trái phiếu kể từ sau cuộc khủng hoảng Covid-19 đã đẩy lợi suất lên cao, làm tăng chi phí vay của các chính phủ trên toàn thế giới.
“Những khối nợ chính phủ khổng lồ này đang phải được tái cấp vốn với mức lãi suất ngày càng cao”, Mike Riddell, nhà quản lý quỹ tại Fidelity International nói. “Các nhà đầu tư toàn cầu đã bắt đầu cảm thấy sợ hãi”.
Đợt bán tháo trên thị trường trái phiếu toàn cầu trong mùa hè càng làm trầm trọng thêm xu hướng lợi suất tăng kể từ sau Covid. Xu hướng này vốn được kích hoạt bởi cú sốc lạm phát, việc chính phủ tăng vay nợ và sự kết thúc của các chương trình mua trái phiếu “nới lỏng định lượng” của ngân hàng trung ương.
Lợi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm chuẩn bình quân của nhóm G7 đã lên 4% lần đầu tiên kể từ năm 2008, trong bối cảnh thị trường lo ngại về tác động lạm phát của cuộc xung đột tại Iran cũng như khối lượng vốn khổng lồ mà cả khu vực công lẫn tư nhân, đặc biệt là các tập đoàn công nghệ vốn đang muốn vay.
Một số nhà kinh tế phản biện rằng riêng tại Mỹ, lợi suất tăng còn xuất phát từ kỳ vọng tăng trưởng kinh tế được cải thiện. Điều này hàm ý lãi suất trong tương lai không cần phải thấp như trước để hỗ trợ nền kinh tế.
Nếu tăng trưởng thực sự chuyển sang một nấc cao hơn, đó có thể trở thành “tấm vé thoát tù miễn phí” đối với nhiều quốc gia: Nguồn thu thuế tăng, khối nợ trở nên dễ quản lý hơn và sự đánh đổi giữa chi phí trả lãi với những khoản chi tiêu khác sẽ giảm xuống.
Nhưng hiện tại, bức tranh lại hoàn toàn khác.
Đối với những nền kinh tế lớn có nợ cao nhưng tăng trưởng thấp như Anh và Pháp, chi phí trả nợ đã buộc chính phủ phải xem xét lại cách quản lý tài chính công.
Tại Anh, việc lợi suất trái phiếu tăng mạnh đã góp phần khiến cựu Thủ tướng Liz Truss mất chức năm 2022 sau kế hoạch “ngân sách mini” cắt giảm thuế nhưng không có nguồn tài chính bù đắp.
Chi phí vay nợ trung bình của nhóm G7 đã tăng lên mức cao kỷ lục hồi năm 2008.
Thế nhưng hiện nay lợi suất còn cao hơn thời điểm đó. Anh đang phải trả khoảng 110 tỷ bảng mỗi năm chỉ riêng tiền lãi nợ.
Trong khi đó, Pháp đã trải qua ba đời thủ tướng kể từ cuộc bầu cử quốc hội năm 2024, một phần do sức ép tài khóa phát sinh từ chi phí nợ.
Tại cả hai nước, cũng như nhiều quốc gia khác, các chính trị gia phải đối mặt với một lựa chọn căn bản: Tăng thuế hoặc thu hẹp quy mô nhà nước.
Quy mô khổng lồ của chi phí trả lãi cũng khiến các nước cực kỳ khó tăng chi tiêu cho những ưu tiên chiến lược như quốc phòng và an ninh năng lượng.
“Nếu tiền lãi nợ là một bộ trong Chính phủ, nó sẽ là bộ lớn thứ hai tại Whitehall sau y tế, lớn hơn quốc phòng, Bộ Nội vụ và tư pháp cộng lại”, Bộ trưởng Tài chính Anh John Healey nói.
Vì sao lợi suất ngày càng tăng?
Trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, lãi suất tại các nền kinh tế lớn tương đối cao, nhưng mức nợ nhìn chung thấp hơn nhiều. Sau đó, nợ tăng mạnh nhưng lãi suất được giữ ở mức thấp nhờ những biện pháp khẩn cấp của ngân hàng trung ương và tăng trưởng kinh tế thấp.
Còn hiện tại, các nhà hoạch định chính sách đang phải đối mặt với một sự kết hợp khó khăn: Nợ kỷ lục và chi phí vay cao.
Các chính phủ vẫn tìm được đủ người mua trái phiếu, nhưng nhà đầu tư đang đòi hỏi mức lợi suất cao hơn để cho họ vay tiền.
Những đợt phát hành trái phiếu mới trong vài tháng gần đây tại Anh, Mỹ và nhiều nước khác đã khóa mức lợi suất cao nhất trong gần hai thập kỷ đối với các khoản nợ dài hạn.
Xu hướng này còn được thúc đẩy bởi những thay đổi trong hệ thống hưu trí tại một số nước. Các nhà đầu tư dài hạn truyền thống đang rút lui và được thay thế bởi những quỹ phòng hộ theo đuổi dòng tiền nhanh, vốn có thể nhanh chóng yêu cầu mức lợi suất cao hơn.
“Kỷ nguyên tiền miễn phí chắc chắn đã kết thúc”, Kim Crawford, nhà quản lý thu nhập cố định toàn cầu tại JPMorgan Asset Management nói. “Thị trường trái phiếu giờ đây đang đòi hỏi kỷ luật”.
Do các chính phủ vay tiền với rất nhiều kỳ hạn khác nhau, trong đó có những khoản nợ phải hàng chục năm nữa mới đáo hạn, tác động của chi phí vay cao hơn lên hóa đơn trả lãi sẽ diễn ra từ từ.
Nhưng xu hướng đã khá rõ.
Văn phòng Ngân sách Quốc hội Mỹ (CBO) ước tính chi phí nợ của Mỹ sẽ tăng gấp đôi trong thập kỷ tới và nếu xu hướng hiện tại tiếp diễn, chi phí này sẽ vượt cả chi tiêu An sinh Xã hội sau năm 2047.
Đối với những quốc gia khác vốn khó thuyết phục nhà đầu tư mua trái phiếu với điều kiện thuận lợi như Mỹ gánh nặng có thể còn lớn hơn.
Nguồn gốc của vấn đề tài chính công đã hình thành từ lâu. Trong đó có làn sóng chi tiêu khổng lồ để chống lại suy thoái do Covid và khủng hoảng năng lượng, cùng những thách thức tài khóa rộng lớn hơn kể từ cuộc khủng hoảng tài chính khiến tốc độ tăng trưởng suy giảm.
Năm ngoái, nợ công toàn cầu đạt 94% GDP thế giới, tăng hơn 10 điểm phần trăm so với thời điểm trước đại dịch. IMF hiện dự báo con số này sẽ chạm 100% GDP vào cuối thập kỷ này.
Đợt bán tháo trái phiếu mùa hè năm nay càng làm vấn đề trầm trọng hơn.
Áp lực lạm phát do xung đột Iran gây ra, ban đầu thông qua giá năng lượng, đã buộc các ngân hàng trung ương quay trở lại xu hướng tăng lãi suất.
Ngân hàng Trung ương châu Âu tăng lãi suất vào tháng 6 lần đầu tiên kể từ năm 2023 và được dự báo sẽ tiếp tục tăng trong tuần này. Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Kevin Warsh cũng bắt đầu phát tín hiệu về khả năng tăng lãi suất ngay trong tháng này.
Một số nhà đầu tư cho rằng sự bất định về lạm phát đang khiến lãi suất dài hạn tăng lên, bởi thị trường yêu cầu mức bù đắp cao hơn khi cho chính phủ vay trong thời gian dài.
Những người khác cho rằng lợi suất cao chủ yếu phản ánh nỗi lo về lượng nợ ngày càng lớn không chỉ từ chính phủ mà còn từ khu vực doanh nghiệp.
Theo Viện Tài chính Quốc tế (IIF), tổng nợ chính phủ và doanh nghiệp trên toàn cầu đang tiến sát 300.000 tỷ USD.
“Có một cuộc cạnh tranh khổng lồ giữa khu vực tư nhân và khu vực công để giành cùng một nguồn tiết kiệm”, Gilles Moëc, kinh tế trưởng tại hãng bảo hiểm Axa nói.
Ông so sánh tình trạng thâm hụt ngân sách lớn kết hợp với chi tiêu vốn tăng vọt hiện nay với thời kỳ bùng nổ công nghệ đầu những năm 2000, khi thâm hụt ngân sách được kiểm soát tốt hơn.
Nỗi lo về giới hạn chịu đựng của thị trường đối với khối nợ khổng lồ này càng tăng khi nhà đầu tư nghi ngờ quyết tâm kiềm chế vay nợ của các chính phủ phát triển.
Ví dụ, IMF dự báo thâm hụt ngân sách Mỹ sẽ tiếp tục ở mức trên 7% GDP cho tới những năm 2030, bất chấp kinh tế nước này tăng trưởng tương đối ổn định và tỷ lệ thất nghiệp hiện chỉ 4,1%.
Làm thế nào thoát khỏi “chiếc lồng nợ”?
Một lựa chọn là cái gọi là “financial repression” – áp chế tài chính: áp dụng các biện pháp buộc các tổ chức tài chính trong nước phải mua thêm nợ chính phủ, qua đó hỗ trợ nhu cầu và kéo lợi suất xuống.
Một kịch bản tích cực hơn là năng suất lao động tăng mạnh nhờ cuộc cách mạng AI, từ đó giúp gánh nặng nợ của các chính phủ trở nên dễ quản lý hơn.
Tổng nợ chính phủ và doanh nghiệp đã đạt gần 300 nghìn tỷ USD.
Tại Anh, Văn phòng Trách nhiệm Ngân sách (OBR) gần đây cho biết trong kịch bản năng suất cao, tỷ lệ nợ/GDP của nước này vào năm 2075 sẽ chỉ nhỉnh hơn một nửa so với dự báo cơ sở mặc dù vẫn ở mức đáng ngại 180% GDP.
Nhưng một số người hoài nghi rằng tăng trưởng có thể xuất hiện kịp thời để giải cứu đồng loạt các nền kinh tế giàu khỏi bài toán ngân sách.
Với những trường hợp mà Mehta của RBC BlueBay gọi là “basket cases” như Anh và Pháp, ông cho rằng: “Các vấn đề về tăng trưởng mang tính cơ cấu nhiều hơn. Tôi không coi đó là một giải pháp tức thời. Bạn thực sự phải cắt giảm chi tiêu”.
Lịch sử cho thấy cuối cùng các chính phủ thường sẽ làm như vậy.
Trong một nghiên cứu năm 2013 xem xét kinh nghiệm của 55 quốc gia trong khoảng thời gian lên tới hai thế kỷ, các nhà kinh tế IMF nhận thấy rằng “việc chi phí vay nợ chính phủ tăng lên thúc đẩy các nhà hoạch định chính sách thắt chặt chính sách tài khóa để ứng phó”.
Anh từng thoát khỏi một gánh nặng nợ lớn hơn nhiều.
Từng có thời kỳ nợ của nước này từng đạt mức kỷ lục khoảng 250% GDP. Tuy nhiên, việc kiềm chế chi tiêu và tăng trưởng kinh tế, được hỗ trợ bởi nhập cư, đã giúp tỷ lệ này giảm mạnh.
Một con đường khác là mô hình Canada trong thập niên 1990, khi chính phủ phản ứng với mức thâm hụt khổng lồ bằng những đợt cắt giảm chi tiêu đau đớn. “Nếu chuẩn bị kỹ, người dân sẽ hiểu”, Paul Martin, Bộ trưởng Tài chính Canada khi đó, sau này nói với Financial Times.
Tại Anh, một số nhà đầu tư cho rằng tăng thuế là cách tốt hơn để lấp khoảng trống ngân sách, miễn là chính phủ tránh những biện pháp làm gia tăng lạm phát.
Nhưng tại nhiều quốc gia, việc tiếp tục cắt giảm chi tiêu hoặc tăng thêm thuế đối với các hộ gia đình và doanh nghiệp vốn đang vật lộn với một cú sốc chi phí sinh hoạt mới sẽ phải trả cái giá chính trị cực kỳ lớn.