Cả tỷ USD vốn ngoại đã đổ vào các ngân hàng
Nhiều ngân hàng Việt Nam liên tiếp ký các khoản vay hợp vốn, tín dụng xanh và phát hành trái phiếu quốc tế với quy mô cả tỷ USD.
Thị trường tài chính quốc tế đang trở thành kênh huy động vốn ngày càng quan trọng đối với các ngân hàng Việt Nam. Chỉ trong thời gian ngắn, nhiều nhà băng liên tiếp hoàn tất các thương vụ huy động vốn có giá trị từ vài chục triệu đến hàng tỷ USD.
Cả tỷ USD vốn ngoại đã đổ vào các ngân hàng. (Ảnh: B.L)
Đại diện Nam Á Bank cho biết, đơn vị này vừa ký thỏa thuận tín dụng xanh quốc tế với SIFEM AG (Định chế tài chính thuộc Chính phủ Thụy Sĩ), đồng thời tiếp cận thêm nguồn vốn từ các quỹ do responsAbility Investments AG (Thụy Sĩ) quản lý với tổng số vốn lên 20 triệu USD
Theo Nam Á Bank, tính từ đầu năm đến tháng 8/2026, ngân hàng này đã thu hút thành công dòng vốn quốc tế trị giá gần 350 triệu USD.
Cuối tháng 7 vừa qua, HDBank hoàn tất khoản vay hợp vốn xã hội trị giá 721 triệu USD do Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và Ngân hàng Standard Chartered đồng thu xếp. Đây được giới thiệu là khoản vay xã hội hợp vốn quốc tế lớn nhất từ trước đến nay tại Việt Nam.
Trước đó, HDBank cũng phát hành thành công 100 triệu USD trái phiếu xanh quốc tế hồi tháng 1/2026, với sự tham gia của các định chế tài chính như: Tổ chức Tài chính Quốc tế - Ngân hàng thế giới (IFC), Ngân hàng Phát triển Hà Lan (FMO) và Tổ chức Tài chính Phát triển Anh (BII).
Trong năm 2025, HDBank tiếp tục huy động 215 triệu USD từ các định chế tài chính như: Ngân hàng Sumitomo Mitsui Banking Corporation (SMBC), Định chế tài chính phát triển của Canada (FinDev Canada) và Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA).
Đáng chú ý nhất trong việc huy động vốn quốc tế trong thời gian qua chính là thương vụ của VPBank.
Cuối tháng 6/2026, ngân hàng này ký khoản vay hợp vốn liên kết bền vững trị giá 1,44 tỷ USD với sự tham gia của 15 định chế tài chính quốc tế. Nguồn vốn được định hướng cho các lĩnh vực xanh và xã hội.
Nếu tính cả các thương vụ trong năm 2025, VPBank đã huy động thành công khoảng 3,65 tỷ USD trên thị trường quốc tế.
Nhiều thương vụ hợp tác trị giá hàng chục triệu USD. (Ảnh: Đ.V)
Ở nhóm ngân hàng có vốn Nhà nước, BIDV cũng huy động thành công khoản vay bền vững trị giá 250 triệu USD, do ADB thu xếp cùng sự đồng tài trợ của JICA, Chính phủ Canada và một số ngân hàng trong khu vực.
Trong khi đó, Ngân hàng MB cũng ký khoản vay hợp vốn xanh trị giá 500 triệu USD trong năm 2025.
SHB cũng huy động tổng cộng 600 triệu USD qua hai thương vụ vay hợp vốn theo chuẩn phát triển bền vững (ESG) trong năm 2025, trong khi TPBank nhận khoản tín dụng tổng cộng 220 triệu USD từ Tài chính Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (DFC) và JICA.
Như vậy, chỉ riêng những thương vụ được công bố trong thời gian gần đây đã cho thấy quy mô dòng vốn quốc tế chảy vào hệ thống ngân hàng Việt Nam lên tới gần 7 tỷ USD.
Vì sao ngân hàng ngày càng dễ tiếp cận vốn ngoại?
Ông Trần Thăng Long, chuyên gia kinh tế, tài chính cho biết, các ngân hàng đang ngày càng dễ tiếp cận dòng vốn ngoại .
Cụ thể, tiêu chuẩn ESG đang trở thành “tấm vé thông hành” giúp ngân hàng Việt tiếp cận dòng vốn quốc tế. Phần lớn các khoản vốn ngoại gần đây được gắn với tín dụng xanh, năng lượng tái tạo, công trình tiết kiệm năng lượng hoặc các chương trình hướng tới bình đẳng xã hội.
Đây là sự thay đổi đáng kể trong “khẩu vị” của các nhà đầu tư quốc tế. Dòng tiền không đơn thuần tìm kiếm lợi suất mà ngày càng quan tâm tới mục đích sử dụng vốn, tác động môi trường - xã hội và chất lượng quản trị của bên đi vay.
Ông Long cho rằng, vốn ngoại không chỉ là câu chuyện về tiền. Một thương vụ vay vốn quốc tế thành công còn mang lại cho ngân hàng một giá trị khác, đó chính là sự xác nhận của thị trường quốc tế về năng lực tài chính và quản trị.
“Để tiếp cận các định chế tài chính nước ngoài, ngân hàng phải đáp ứng hàng loạt tiêu chuẩn về minh bạch, quản trị rủi ro, an toàn vốn và khả năng thực hiện các cam kết liên quan đến ESG”, ông Long nói.
Ông Long chia sẻ, các ngân hàng đang có nhu cầu vốn ngày càng lớn khi tín dụng tiếp tục được kỳ vọng tăng trưởng cao. Cơ cấu nguồn vốn trong nước vẫn phụ thuộc đáng kể vào tiền gửi ngắn hạn, trong khi nhu cầu tài trợ cho các dự án xanh, hạ tầng, thương mại và doanh nghiệp ngày càng đòi hỏi nguồn vốn trung và dài hạn.
Trong bối cảnh đó, vốn quốc tế trở thành một lựa chọn đáng chú ý bởi các khoản vay thường có quy mô lớn và kỳ hạn dài hơn. Tuy nhiên, dòng vốn ngoại không phải “tiền rẻ”.
Dòng vốn quốc tế mở ra thêm dư địa cho hệ thống ngân hàng, song không đồng nghĩa đây là nguồn vốn có chi phí thấp. Lãi suất vay USD trên thị trường quốc tế hiện dao động khoảng 5,5-6%/năm, chưa kể các chi phí liên quan đến phòng ngừa rủi ro tỷ giá và phí thu xếp khoản vay. Tổng chi phí có thể lên tới khoảng 8-9%/năm.
Cũng theo ông Long, điểm hấp dẫn nhất của nguồn vốn quốc tế vì thế không nằm hoàn toàn ở giá vốn, mà ở quy mô và kỳ hạn. Những khoản vay 3-5 năm giúp ngân hàng giảm bớt áp lực phải liên tục huy động nguồn vốn ngắn hạn trong nước để đáp ứng các nhu cầu tín dụng dài hơn. Đây cũng là yếu tố có ý nghĩa trong bối cảnh cạnh tranh huy động vốn trong nước ngày càng gay gắt và mặt bằng lãi suất có xu hướng chịu áp lực.
Theo Vụ Tín dụng (Ngân hàng Nhà nước), mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030 đang đặt ra nhu cầu vốn rất lớn. Tổng nhu cầu vốn cho giai đoạn này ước tính khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, cao gấp 2 lần giai đoạn 2021-2025.
Trong khi đó, tín dụng ngân hàng hiện vẫn là kênh dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế. Điều này tạo ra một nghịch lý: nền kinh tế cần vốn ngày càng nhiều, nhưng không thể chỉ dựa vào hệ thống ngân hàng để cung cấp toàn bộ nguồn lực.
Tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với doanh nghiệp hồi tháng 7, ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch HĐQT Vietcombank cho rằng, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 10%, tỷ lệ đầu tư của nền kinh tế cần khoảng 40% GDP, trong khi tỷ lệ tiết kiệm bình quân trong nước mới khoảng 36,5% GDP. Khoảng chênh lệch này cho thấy nhu cầu huy động thêm nguồn lực từ bên ngoài là rất lớn.
Theo các chuyên gia, dòng vốn quốc tế vào ngân hàng không chỉ giúp từng nhà băng giải bài toán thanh khoản hay tăng trưởng tín dụng. Ở quy mô lớn hơn, đây là một phần của quá trình bổ sung nguồn lực bên ngoài cho nền kinh tế.