AI Việt hỗ trợ phát hiện 5 nhóm tổn thương trong một lần nội soi, mở thêm cơ hội phát hiện sớm ung thư

| Sống

Công nghệ trí tuệ nhân tạo do các nhà khoa học Việt Nam phát triển có thể hỗ trợ nhận diện 5 nhóm tổn thương đường tiêu hóa trong một lần nội soi, trong khi các xét nghiệm sinh học mới cũng mở ra triển vọng phát hiện ung thư gan sớm hơn.

Ung thư đường tiêu hóa và ung thư gan đều đặt ra thách thức lớn trong chẩn đoán bởi bệnh có thể tiến triển âm thầm trước khi xuất hiện triệu chứng rõ ràng. Những tiến bộ về nội soi độ phân giải cao, trí tuệ nhân tạo (AI) và xét nghiệm dấu ấn sinh học đang mở thêm cơ hội nhận diện tổn thương sớm, giúp bác sĩ có thêm căn cứ lựa chọn phương án điều trị phù hợp.

Đáng chú ý, các nhà khoa học Việt Nam đã phát triển thuật toán AI hỗ trợ phát hiện và phân loại 5 nhóm tổn thương đường tiêu hóa, gồm viêm thực quản trào ngược, ung thư thực quản, ung thư dạ dày, viêm dạ dày và loét hành tá tràng. Nghiên cứu thuộc đề tài cấp nhà nước đã được Bộ Khoa học và Công nghệ nghiệm thu, đồng thời có sáng chế được công nhận.

 - Ảnh 1.

GS.TS Đào Văn Long, Chủ tịch Hội đồng sáng lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật

Theo GS.TS Đào Văn Long, Chủ tịch Hội đồng sáng lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật, hệ thống được phát triển nhằm hỗ trợ bác sĩ nhận diện nhiều loại tổn thương trong cùng một lần nội soi. Thay vì chỉ tập trung vào một bệnh lý, thuật toán có thể phân tích hình ảnh để đưa ra cảnh báo về các bất thường thuộc nhiều nhóm bệnh khác nhau.

Trong thực tế, nội soi tiêu hóa là phương pháp quan trọng giúp phát hiện tổn thương tại thực quản, dạ dày và tá tràng. Tuy nhiên, khả năng nhận diện những bất thường nhỏ có thể chịu ảnh hưởng bởi chất lượng hình ảnh, điều kiện quan sát và kinh nghiệm của người thực hiện. AI được kỳ vọng hỗ trợ bác sĩ phát hiện những vùng nghi ngờ, giảm nguy cơ bỏ sót tổn thương và tăng tính nhất quán trong quá trình đánh giá.

 - Ảnh 2.

Sự phát triển của các hệ thống nội soi độ phân giải cao đã giúp bác sĩ nhận diện rõ hơn những bất thường của niêm mạc đường tiêu hóa - Ảnh: Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật

PGS.TS.BS. Đào Việt Hằng - Nghiên cứu viên cao cấp, Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hoá, Gan mật Giám đốc Trung tâm Nội soi, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, là một trong những chuyên gia có vai trò quan trọng trong lĩnh vực nội soi tiêu hóa và nghiên cứu ứng dụng công nghệ vào thực hành lâm sàng. Từ góc độ chuyên môn, việc đưa AI vào quy trình nội soi cần gắn với nhu cầu thực tế của bác sĩ, khả năng tích hợp với hệ thống thiết bị và hiệu quả hỗ trợ phát hiện tổn thương. Công nghệ chỉ có ý nghĩa khi giúp nâng cao chất lượng thăm khám mà vẫn bảo đảm bác sĩ là người đưa ra quyết định chuyên môn cuối cùng.

"Chúng tôi hy vọng thông qua đề tài nghiên cứu này, bên cạnh việc chứng minh giá trị của dấu ấn sinh học mới, nhóm nghiên cứu có thể góp phần giảm chi phí xét nghiệm. Khi đó, nếu được ứng dụng rộng rãi, người bệnh ung thư gan tại Việt Nam sẽ có thêm cơ hội tiếp cận những tiến bộ của y học hiện đại", bác sĩ Hằng chia sẻ.

Theo GS.TS Đào Văn Long, một trong những mục tiêu của nhóm nghiên cứu là làm chủ công nghệ trong nước, khắc phục hạn chế của một số sản phẩm thương mại vốn được thiết kế để tích hợp với hệ thống nội soi của từng hãng thiết bị. Nhóm hướng tới phát triển phần mềm có thể tương thích với nhiều hệ thống khác nhau, phù hợp với đặc điểm bệnh lý của người Việt Nam và giảm chi phí đầu tư.

Sau khi hoàn thành, hệ thống đã được ứng dụng tại ba cơ sở y tế, gồm một trung tâm nội soi thuộc bệnh viện đại học tại Hà Nội, Phòng khám đa khoa Hoàng Long và Bệnh viện Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương. Việc triển khai tại các cơ sở này là bước đầu để đánh giá khả năng vận hành trong môi trường thực tế, đồng thời cung cấp thêm cơ sở cho quá trình hoàn thiện sản phẩm. Tuy nhiên, từ kết quả nghiên cứu đến thương mại hóa và ứng dụng rộng rãi vẫn cần thêm thời gian kiểm chứng, tối ưu thuật toán và đánh giá hiệu quả.

 - Ảnh 3.

PGS.TS.BS. Đào Việt Hằng - Nghiên cứu viên cao cấp, Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hoá, Gan mật Giám đốc Trung tâm Nội soi, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội

Không chỉ với ung thư đường tiêu hóa, công nghệ mới còn mở ra hướng tiếp cận trong phát hiện sớm ung thư gan. Theo GS.TS Đào Văn Long, dù công tác chẩn đoán và điều trị tại Việt Nam đã có những tiến bộ, ung thư gan vẫn là một trong những bệnh ung thư phổ biến. Đáng lo ngại, khoảng 50-80% bệnh nhân được phát hiện khi bệnh đã ở giai đoạn tiến triển, theo các nghiên cứu tại khu vực phía Bắc và phía Nam mà ông dẫn lại.

Nguyên nhân quan trọng là ung thư gan thường xuất hiện trên nền bệnh gan mạn tính như viêm gan B, viêm gan C hoặc bệnh gan liên quan đến rượu. Ở người có chức năng gan còn tốt, khối u có thể chưa gây triệu chứng đặc biệt. Khi xuất hiện dấu hiệu bất thường và đi khám, người bệnh đôi khi đã ở giai đoạn muộn, khiến cơ hội điều trị triệt để giảm đi.

Ở giai đoạn sớm, người bệnh có thể được cân nhắc các phương pháp như đốt sóng cao tần, phẫu thuật cắt gan hoặc ghép gan nếu đáp ứng tiêu chuẩn chuyên môn. Với trường hợp bệnh tiến triển, việc điều trị có thể cần phối hợp nút mạch, hóa trị, thuốc điều trị đích hoặc liệu pháp miễn dịch. Quá trình này phức tạp hơn, đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều chuyên khoa.

Bên cạnh dấu ấn sinh học AFP thường được sử dụng trong hỗ trợ chẩn đoán, một số cơ sở y tế đã ứng dụng bộ xét nghiệm kết hợp AFP, AFP-L3 và PIVKA-II nhằm bổ sung thông tin đánh giá nguy cơ ung thư gan. Một hướng nghiên cứu khác là phân tích DNA khối u lưu hành (ctDNA) trong nước tiểu. GS.TS Đào Văn Long cho biết nhóm nghiên cứu đang triển khai đề tài cấp bộ về phương pháp này, với kỳ vọng hỗ trợ phát hiện ung thư gan ở giai đoạn sớm hơn. Đây vẫn là hướng tiếp cận cần được tiếp tục nghiên cứu, đánh giá trước khi có thể ứng dụng rộng rãi.

Trong chẩn đoán hình ảnh, AI cũng có thể hỗ trợ bác sĩ phân tích ảnh chụp cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ để nhận diện những khối u nhỏ. Dù vậy, các công nghệ mới không thay thế việc thăm khám và theo dõi định kỳ. Với người mắc viêm gan B, viêm gan C, xơ gan hoặc bệnh gan mạn tính, chủ động quản lý bệnh và thực hiện các kiểm tra theo hướng dẫn của bác sĩ vẫn là yếu tố quan trọng để phát hiện bất thường sớm, tăng cơ hội điều trị hiệu quả.

Giả Hủ

Cùng chuyên mục
XEM