11 tuổi học xong phổ thông, 13 tuổi tốt nghiệp đại học, 17 tuổi thành bác sĩ trẻ nhất thế giới: 30 năm sau, 'thần đồng' nói gì về tuổi thơ?
Khi bạn bè cùng tuổi vẫn còn ngồi trên ghế phổ thông, Balamurali Ambati đã bước vào trường y. Ông lấy bằng cử nhân năm 13 tuổi và trở thành bác sĩ khi chưa tròn 18. Ba thập kỷ sau, người từng được biết đến với danh xưng bác sĩ trẻ nhất thế giới nói ông không tiếc vì đã lớn lên theo một cách rất khác.
Ngày đầu tiên vào trường y, cả lớp đi tìm "đứa trẻ 14 tuổi"
Năm 1991, trong ngày đầu tiên tại Mount Sinai School of Medicine ở New York, Mỹ, vị trưởng khoa đứng trước lớp sinh viên mới và giới thiệu rằng khóa học năm ấy có độ tuổi rất đa dạng. Người lớn nhất 35 tuổi, còn người nhỏ nhất mới 14.
Cả lớp bắt đầu nhìn quanh, tò mò muốn biết "đứa trẻ" 14 tuổi đang ngồi ở đâu.
Không ai nghĩ đó lại là Balamurali Ambati. "Khi đó tôi cao 6 feet (khoảng 1,83 m), nên mọi người không nghi ngờ tôi", Ambati nhớ lại. Thậm chí một tháng sau, vẫn có sinh viên đến hỏi ông: "Cậu đã gặp đứa trẻ 14 tuổi đó chưa?".
Để có mặt trong một lớp học y khoa ở tuổi 14, Ambati đã đi qua một hành trình học tập khác xa phần lớn trẻ em. Ảnh: Eyeworld
Ambati không vội tiết lộ. Ông chọn cách hòa vào lớp học như những sinh viên khác và chỉ nói về tuổi thật sau khi đã có bạn bè. Đến lúc ấy, theo ông, tuổi tác cũng không còn quan trọng nữa.
Bốn năm sau ngày nhập học đặc biệt đó, Ambati tốt nghiệp trường y vào năm 1995. Hai ngày trước sinh nhật thứ 18, ông đạt kết quả trên phân vị 99 trong kỳ National Medical Boards và trở thành người trẻ nhất thế giới trở thành bác sĩ, theo Medscape.
Nhưng để có mặt trong một lớp học y khoa ở tuổi 14, Ambati đã đi qua một hành trình học tập khác xa phần lớn trẻ em.
Ông hoàn thành chương trình tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông khi mới 11 tuổi. Hai năm sau, ở tuổi 13, Ambati nhận bằng cử nhân sinh học tại New York University.
Sau trường y, ông tiếp tục chương trình nội trú nội khoa tại Beth Israel ở New York, nội trú nhãn khoa tại Harvard University ở Boston và fellowship về giác mạc tại Duke University ở North Carolina.
Một tuổi thơ trong thư viện, nhưng không phải tuổi thơ bị đánh mất
Đằng sau tốc độ học tập hiếm thấy của Ambati là một gia đình có nền tảng học thuật. Cha ông là giáo sư kỹ thuật, mẹ là nhà ngôn ngữ học Tamil và nhà toán học. Gia đình Ambati di cư từ Vellore, Ấn Độ sang Mỹ cùng người anh trai khi ông mới 3 tuổi.
Ambati kể cha mẹ luôn ủng hộ và tìm cách "mở cửa" để ông có thể tiến xa hơn trong hệ thống giáo dục. Điều đáng chú ý là không phải tất cả người lớn đều thoải mái với việc một đứa trẻ học nhanh đến vậy.
Để có mặt trong một lớp học y khoa ở tuổi 14, Ambati đã đi qua một hành trình học tập khác xa phần lớn trẻ em. Ảnh: Eyeworld
Theo Ambati, các giáo viên thường ủng hộ, trong khi một số nhà quản lý giáo dục lại không như vậy. Cha mẹ vì thế đóng vai trò quan trọng trong việc giúp con vượt qua những rào cản của hệ thống.
Cuộc sống ngoài trường học của Ambati cũng khác nhiều bạn bè đồng trang lứa. Ông tự học cùng cha mẹ và anh trai, tham gia những kỳ thi có độ khó cao, học các khóa tại trường đại học địa phương và dành nhiều cuối tuần trong thư viện.
Một câu hỏi gần như không thể tránh khỏi với trường hợp của Ambati là: Một đứa trẻ tiến quá nhanh trên con đường học thuật có đánh mất tuổi thơ của mình hay không?
Ông làm bác sĩ nhãn khoa tại Pacific ClearVision Institute, đồng thời là giáo sư nghiên cứu tại Department of Bioengineering thuộc University of Oregon. Ảnh: Orbis
Câu trả lời của chính Ambati lại khá đơn giản. "Tôi không hối tiếc vì đã bỏ lỡ bất cứ điều gì. Tôi không dùng ma túy và không đi prom. Nhưng tôi có bạn bè, chơi game, đi xem phim. Tôi đã có một tuổi thơ tốt đẹp", ông nói.
Nói cách khác, trong ký ức của người trở thành bác sĩ ở tuổi 17, tuổi thơ không biến mất. Nó chỉ diễn ra theo một lịch trình rất khác.
30 năm sau, thứ ông nhận được nhiều nhất là "thời gian"
Kỷ lục năm 17 tuổi có thể là điều khiến tên tuổi Balamurali Ambati được biết đến, nhưng cuộc đời nghề nghiệp của ông sau đó kéo dài thêm hàng chục năm.
Ở thời điểm bài viết của Medscape được công bố năm 2025, Ambati 48 tuổi, đã kết hôn và có hai con. Ông làm bác sĩ nhãn khoa tại Pacific ClearVision Institute, đồng thời là giáo sư nghiên cứu tại Department of Bioengineering thuộc University of Oregon, đều ở Eugene, Oregon.
Lịch làm việc của Ambati vẫn dày đặc. Ảnh: Orbis
Lịch làm việc của Ambati vẫn dày đặc. Ngoài công việc khám chữa bệnh, ông còn tham gia vận hành các trung tâm phẫu thuật, nghiên cứu tại phòng thí nghiệm của trường đại học, hoạt động tình nguyện ở nhiều nơi trên thế giới và tham gia startup iVeena, phát triển thuốc nhỏ mắt dành cho cận thị ở trẻ em.
Dù vậy, sau khi có con, chính Ambati cũng thừa nhận mình đã "chậm lại một chút". Nhìn lại việc hoàn thành trường y từ khi rất trẻ, ông cho rằng lợi ích lớn nhất có lẽ không nằm ở danh hiệu hay kỷ lục. "Hoàn thành việc học từ khi còn trẻ đã cho tôi thời gian", Ambati nói.
Lịch làm việc của Ambati vẫn dày đặc. Ảnh: Orbis
Khi trả lời Medscape, ông đã tốt nghiệp trường y được 30 năm. Trong lúc một số người cùng thế hệ bắt đầu nghĩ tới chuyện nghỉ hưu, Ambati cho biết bản thân vẫn khỏe và muốn tiếp tục hành nghề thêm 25-30 năm nữa.
Nếu nhìn theo cách đó, việc bắt đầu sự nghiệp ở tuổi 17 không chỉ giúp Ambati trở thành người "đi trước" vài năm. Nó có thể mang lại cho ông một sự nghiệp y khoa kéo dài hơn nửa thế kỷ.
Những "thần đồng" bước vào trường y trước khi bạn bè học xong phổ thông
Ambati không phải trường hợp duy nhất được Medscape nhắc đến. Hơn một thập kỷ sau, Sho Yano cũng trở thành một trong những sinh viên y khoa trẻ hiếm thấy tại Mỹ.
Yano hoàn thành chương trình từ tiểu học đến hết phổ thông khi mới 9 tuổi, sau đó theo học Loyola University Chicago từ 9 đến 12 tuổi. Ông bắt đầu trường y tại University of Chicago Pritzker School of Medicine khi mới 12 tuổi và hoàn thành chương trình MD/PhD về di truyền học vi khuẩn 9 năm sau, ở tuổi 21.
Cậu bé Yano có vóc dáng nhỏ nhắn đúng với lứa tuổi. Ảnh: Alchetron
Nhưng nếu chiều cao giúp Ambati phần nào "ẩn mình" giữa những sinh viên lớn tuổi, Yano lại không có lợi thế đó.
Ông kể từng nhận những lời bình luận không dễ chịu từ sinh viên và người làm công tác quản lý. Có người hỏi liệu mẹ có làm bài tập hộ ông hay không. Một số sinh viên không quen biết thậm chí bảo cậu bé hãy "quay về trường tiểu học".
Cậu bé Yano có vóc dáng nhỏ nhắn đúng với lứa tuổi. Ảnh: Alchetron
Khoa Xã hội học của Loyola từng từ chối cho Yano tham gia lớp học vì cho rằng sự hiện diện của ông là một "sự phân tâm". Yano không theo đuổi tranh cãi mà chuyển sang học Classics. Trớ trêu thay, lựa chọn bất đắc dĩ đó lại giúp ông hình thành niềm yêu thích lâu dài với các tác phẩm kinh điển Hy Lạp.
Hiện Yano làm việc trong lĩnh vực thần kinh nhi khoa. Trải nghiệm từng bị nghi ngờ vì tuổi tác cũng ảnh hưởng đến cách ông nhìn bệnh nhân sau này: thay vì chỉ nhìn vào điểm khác biệt của một người, cần cố gắng hiểu họ là ai.
Hiện Yano làm việc trong lĩnh vực thần kinh nhi khoa. Ảnh: Alchetron
Một trường hợp khác là Ryan Nguyen, lớn lên tại Hawaii.
Nguyen hoàn thành chương trình phổ thông năm 12 tuổi, học hai năm tại Kapiolani Community College rồi chuyển sang University of Hawai'i at Manoa. Đến năm 16 tuổi, Nguyen đã có bằng cử nhân sinh học và bước vào trường y.
Khác với những trải nghiệm khó khăn của Yano, Nguyen có đời sống xã hội tương đối thuận lợi. Anh cho biết những người bạn thân nhất thời đại học được quen từ lớp tiếng Việt. Khi đại dịch xảy ra, họ tiếp tục trò chuyện qua mạng và những mối quan hệ này giúp Nguyen trưởng thành trong giai đoạn nhiều người phải sống cô lập.
Cậu bé "thần đồng" Ryan Nguyen. Ảnh: Hawaii New Snow.
Cựu Hiệu trưởng trường Y JABSOM Jerris Hedges cùng với Ryan Nguyen tại Lễ trao áo blouse trắng. Ảnh: hawaii.edu
Điểm chung giữa ba câu chuyện không chỉ là những con số gây kinh ngạc: 9 tuổi học xong phổ thông, 12 tuổi vào trường y hay 17 tuổi trở thành bác sĩ.
Sau nhiều năm làm việc trong ngành y, cả Ambati, Yano và Nguyen đều nhấn mạnh một kỹ năng ít liên quan đến chuyện học nhanh hay làm bài thi giỏi: khả năng lắng nghe người khác.
Medscape cho rằng việc tăng tốc qua hệ thống giáo dục đã buộc những người trẻ này phải học khả năng thích nghi, kỹ năng xã hội và cảm xúc cũng như sức bền tâm lý sớm hơn nhiều người đồng trang lứa. Bài viết cũng dẫn các nghiên cứu cho thấy trí tuệ cảm xúc cao ở bác sĩ có liên quan tới sự đồng cảm với bệnh nhân, khả năng làm việc nhóm và quản lý căng thẳng, kiệt sức tốt hơn.
Cậu bé "thần đồng" Ryan Nguyen lúc nhỏ. Ảnh: Hawaii New Snow.
Với Ambati, sau hàng chục năm kể từ khi trở thành bác sĩ trẻ nhất thế giới, điều quan trọng nhất để trở thành một bác sĩ giỏi không nằm ở việc một người có thể hoàn thành trường y nhanh đến đâu.
"Tôi nghĩ biết lắng nghe là điều quan trọng nhất để trở thành một bác sĩ giỏi", ông nói. Theo Ambati, bác sĩ cần cố gắng hiểu bệnh nhân đang sợ điều gì, họ mong muốn điều gì và để họ có cơ hội kể câu chuyện của chính mình.
Ba mươi năm sau kỷ lục đặc biệt ở tuổi 17, câu chuyện của Ambati vì thế không chỉ còn là chuyện về một đứa trẻ học nhanh đến mức nào. Đằng sau những con số từng khiến người khác kinh ngạc là một hành trình dài hơn nhiều: từ một cậu bé phải tìm cách hòa vào lớp học toàn người lớn đến một bác sĩ cho rằng khả năng hiểu và lắng nghe người khác mới là một trong những điều quan trọng nhất của nghề y.
Nguồn: Medscape










