Một hộ kinh doanh nợ thuế hơn 21 triệu đồng: Cơ quan Thuế yêu cầu Ngân hàng trích tiền từ tài khoản của hộ để nộp

Phan Trang | 09/04/2026 15:21 PM | Kinh tế vĩ mô

Đây là một trong những biện pháp cưỡng chế thuế đối với hộ kinh doanh nợ thuế quá hạn.

Một hộ kinh doanh nợ thuế hơn 21 triệu đồng: Cơ quan Thuế yêu cầu Ngân hàng trích tiền từ tài khoản của hộ để nộp- Ảnh 1.

Thuế cơ sở 3 tỉnh Khánh Hòa vừa ban hành Quyết định số 364/QĐ-TCS3 ngày 24/3/2026 về việc cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý thuế đối với Hộ kinh doanh Nguyễn Diệu Kỳ, bằng biện pháp trích tiền từ tài khoản tại tổ chức tín dụng.

Cụ thể, theo quyết định, cơ quan thuế sẽ thực hiện cưỡng chế bằng biện pháp trích tiền từ tài khoản đối với Hộ kinh doanh Nguyễn Diệu Kỳ; địa chỉ: Thôn Phước Tuy 1, xã Diên Thọ, tỉnh Khánh Hòa; mã số thuế: 056079010922 mở tại Ngân hàng Trách Nhiệm Hữu Hạn Một Thành Viên Số Vikki để thi hành Thông báo tiền thuế nợ số 4489/TB-TCS3 ngày 23/03/2026 của Thuế cơ sở 3 tỉnh Khánh Hòa.

Theo quyết định, hộ kinh doanh này bị cưỡng chế do có khoản nợ thuế đã quá hạn trên 90 ngày kể từ thời điểm hết hạn nộp theo quy định. Tổng số tiền bị cưỡng chế là 21,9 triệu đồng.

Cơ quan thuế yêu cầu Ngân hàng TNHH MTV Số Vikki thực hiện trích tiền từ tài khoản số 905489570 của Hộ kinh doanh Nguyễn Diệu Kỳ để nộp vào ngân sách nhà nước.

Trường hợp số dư trên tài khoản không đủ để thực hiện toàn bộ nghĩa vụ theo quyết định cưỡng chế, ngân hàng có trách nhiệm trích số tiền còn lại sau khi đảm bảo số dư tối thiểu duy trì tài khoản, đồng thời tiếp tục theo dõi và trích bổ sung các khoản tiền phát sinh trên tài khoản trong thời gian quyết định còn hiệu lực.

Ngay trong ngày thực hiện trích nộp, Ngân hàng TNHH MTV Số Vikki phải thông báo bằng văn bản kèm chứng từ nộp ngân sách cho Thuế cơ sở 3 tỉnh Khánh Hòa.

Trường hợp nào sẽ bị cưỡng chế nợ thuế?

Quy định cũ áp dụng đến 30/6/2026

Theo Điều 124 Luật quản lý thuế 2019 (được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 56/2024/QH15) quy định 6 trường hợp bị cưỡng chế nợ thuế bao gồm:

(1) Người nộp thuế có tiền thuế nợ quá 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp theo quy định.

(2) Người nộp thuế có tiền thuế nợ khi hết thời hạn gia hạn nộp tiền thuế.

(3) Người nộp thuế có tiền thuế nợ có hành vi phát tán tài sản hoặc bỏ trốn.

(4) Người nộp thuế không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế theo thời hạn ghi trên quyết định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế, trừ trường hợp được hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành quyết định xử phạt.

(5) Chưa thực hiện biện pháp cưỡng chế thuế đối với trường hợp người nộp thuế được cơ quan quản lý thuế khoanh tiền thuế nợ trong thời hạn khoanh nợ; không tính tiền chậm nộp thuế theo quy định của Luật này; được nộp dần tiền thuế nợ trong thời hạn nhưng không quá 12 tháng kể từ ngày bắt đầu của thời hạn cưỡng chế thuế.

Việc nộp dần tiền thuế nợ được thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp người nộp thuế xem xét trên cơ sở đề nghị của người nộp thuế và phải có bảo lãnh của tổ chức tín dụng. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định số lần nộp dần và hồ sơ, thủ tục về nộp dần tiền thuế nợ.

(6) Không thực hiện biện pháp cưỡng chế đối với người nộp thuế có nợ phí hải quan và lệ phí hàng hóa, phương tiện quá cảnh.

Quy định mới sẽ áp dụng từ ngày 01/7/2026

Theo Điều 48 Luật Quản lý Thuế 2025 quy định 09 trường hợp bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế bao gồm:

(1) Người nộp thuế có tiền thuế nợ quá 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp theo quy định.

(2) Người nộp thuế có tiền thuế nợ khi hết thời hạn gia hạn nộp tiền thuế.

(3) Người nộp thuế có tiền thuế nợ nhưng không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký hoặc có hành vi phát tán tài sản.

(4) Người nộp thuế không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế theo thời hạn ghi trên quyết định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế, trừ trường hợp được hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành quyết định xử phạt.

(5) Người nộp thuế đã bị xử phạt hành chính về hành vi không chấp hành quyết định kiểm tra thuế nhưng tiếp tục không chấp hành quyết định kiểm tra thuế.

(6) Chưa thực hiện biện pháp cưỡng chế thuế đối với khoản nợ của người nộp thuế được cơ quan quản lý thuế không tính tiền chậm nộp theo quy định; được nộp dần tiền thuế nợ trong thời hạn không quá 12 tháng kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản chấp nhận nộp dần tiền thuế nợ và trong thời gian thư bảo lãnh có hiệu lực. Việc nộp dần tiền thuế nợ được thủ trưởng cơ quan quản lý thuế xem xét trên cơ sở đề nghị của người nộp thuế và phải có bảo lãnh của tổ chức tín dụng.

(7) Không thực hiện biện pháp cưỡng chế đối với người nộp thuế có nợ phí hải quan và lệ phí hàng hóa, phương tiện vận tải quá cảnh.

(8) Cơ quan thuế không thực hiện biện pháp cưỡng chế đối với số tiền thuế nợ được bù trừ qua hoàn thuế mà cơ quan thuế đang làm thủ tục bù trừ cho người nộp thuế.

(9) Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế căn cứ tình hình thực tế để quyết định trường hợp thực hiện cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế.

2. Mức tính tiền chậm nộp và thời gian tính tiền chậm nộp thuế từ 1/7/2026

(Khoản 2, 3, 4 Điều 16 Luật Quản lý Thuế 2025)

Mức tính tiền chậm nộp và thời gian tính tiền chậm nộp được quy định như sau:

- Mức tính tiền chậm nộp bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền thuế, khoản thu khác chậm nộp do cơ quan thuế quản lý thu và 0,03%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp do cơ quan hải quan quản lý thu;

- Thời gian tính tiền chậm nộp thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Người nộp thuế tự xác định số tiền chậm nộp theo quy định và nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định. Sau 30 ngày kể từ ngày người nộp thuế nộp tiền thuế, khoản thu khác, tiền phạt nhưng người nộp thuế chưa xác định số tiền chậm nộp thì cơ quan quản lý thuế xác định số tiền chậm nộp và thông báo cho người nộp thuế.

- Trường hợp sau 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế, khoản thu khác, người nộp thuế chưa nộp tiền thuế nợ thì cơ quan quản lý thuế thông báo cho người nộp thuế biết số tiền thuế nợ và số ngày chậm nộp.



Phan Trang

Cùng chuyên mục
XEM