Kiểm soát chặt tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro
Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026 ngày 31/12, liên quan đến điều hành tín dụng, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính lưu ý, với thực tế hiện nay cần tiếp tục thực hiện cơ chế phân bổ hạn mức tín dụng để kiểm soát tình hình. Thủ tướng cũng lưu ý kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro (trong đó có bất động sản), bảo đảm chất lượng tín dụng.
Giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô là mục tiêu hàng đầu
Thủ tướng lưu ý, mọi hoạt động của ngân hàng phải đổi mới, phải đột phá nhưng góp phần thực hiện nhất quán mục tiêu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, kiểm soát bội chi, nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài. Đây là mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng nhất của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và ngành ngân hàng trong năm 2026 và thời gian tới.
Về điều hành tăng trưởng tín dụng, trong năm nay, theo Thủ tướng , việc bỏ room tín dụng phải nghiên cứu, chọn thời điểm thích hợp. "Chúng ta vẫn phải có room tín dụng để kiểm soát tình hình trong bối cảnh hiện nay" – Thủ tướng nhấn mạnh. Theo đó, điều hành room tín dụng phù hợp, căn cứ xếp hạng của từng ngân hàng, thưởng phạt nghiêm minh.
Thủ tướng lưu ý kiểm soát rủi ro phải tuân thủ thông lệ quốc tế, bằng công cụ thị trường. Lưu ý kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, bảo đảm chất lượng tín dụng; tăng cường cảnh báo sớm, có giải pháp phù hợp, kịp thời để bảo đảm an toàn từng tổ chức tín dụng và toàn bộ hệ thống ngân hàng, chủ động xử lý hiệu quả những vấn đề phát sinh."Chúng ta phải có ga, có phanh một cách hiệu quả và công cụ phải là công cụ thị trường", Thủ tướng nhấn mạnh.
Theo Thủ tướng, một số bài học kinh nghiệm, đó là: Phải hết sức bình tĩnh, giữ vững bản lĩnh trước những biến động khó lường, những khó khăn, thách thức có thể đến bất cứ lúc nào. Bên cạnh đó, thay đổi chính sách, chuyển đổi trạng thái phải có bước đi, lộ trình và giải pháp phù hợp. Điều hành chính sách chủ động, linh hoạt, kịp thời, phù hợp, hiệu quả, phối hợp đồng bộ với các chính sách khác.
Theo báo cáo của NHNN, trong điều hành tín dụng, năm 2025, NHNN tiếp tục thực hiện các giải pháp điều hành tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô nhằm góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát. Ngay từ đầu năm, NHNN đã xác định rõ định hướng điều hành tín dụng năm 2025 và dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 16%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế. Đồng thời, NHNN tiếp tục đổi mới công tác điều hành tăng trưởng tín dụng, thông báo công khai, minh bạch về nguyên tắc giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng để các tổ chức tín dụng (TCTD) chủ động triển khai thực hiện.
Bên cạnh đó, NHNN cũng thường xuyên chỉ đạo các TCTD đẩy mạnh tín dụng, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng của người dân, doanh nghiệp; hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế theo chủ trương của Chính phủ; chú trọng đầu tư tín dụng vào các dự án, công trình trọng điểm, khả thi; kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro (như: bất động sản, chứng khoán, dự án BOT, BT giao thông); tăng cường cải cách, đơn giản hóa thủ tục, áp dụng chuyển đổi số vào quy trình cấp tín dụng, tiết giảm chi phí hoạt động để giảm mặt bằng lãi suất cho vay, tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp vay vốn với chi phí phù hợp.
Với việc triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp, tính đến ngày 24/12/2025, dư nợ tín dụng nền kinh tế đạt trên 18,4 triệu tỷ đồng, tăng 17,87% so với cuối năm 2024, tăng 19,41% so với cùng kỳ năm trước.
Cơ cấu tín dụng phù hợp với cơ cấu nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu tín dụng của người dân, doanh nghiệp, trong đó, theo số liệu đến cuối tháng 10 so với cuối năm 2024: Ngành nông, lâm, thủy sản chiếm 6,15% tổng dư nợ nền kinh tế; Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 12,39%; Ngành xây dựng chiếm 7,47% (trong đó có các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng là ngành đang được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo đẩy mạnh đầu tư); Ngành bán buôn, bán lẻ có quy mô dư nợ lớn nhất toàn hệ thống chiếm 22,24%. Một số lĩnh vực có tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ tín dụng trong nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá, trong đó có các lĩnh vực góp phần thúc đẩy tăng trưởng, theo số liệu đến cuối tháng 10: Các lĩnh vực ưu tiên nông nghiệp, nông thôn và doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ nền kinh tế (lần lượt là 22,42%, 19,11%); trong khi lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao có tốc độ tăng trưởng tín dụng lần lượt là 27,46% và 30,36%).
Đa dạng hóa nguồn vốn, giảm lệ thuộc tín dụng ngân hàng
Có thể nói, trong bối cảnh hiện nay, câu chuyện tín dụng trở thành vấn đề "nóng" và mang tính then chốt: tăng trưởng tín dụng ở mức nào là phù hợp, phân bổ vốn ra sao để phát huy hiệu quả, vai trò của cơ chế thị trường đến đâu và mức độ can thiệp của Nhà nước như thế nào. Đặc biệt, với các nước đang phát triển như Việt Nam, nơi hệ thống tài chính vẫn chủ yếu dựa vào ngân hàng, tín dụng tiếp tục là nguồn lực quan trọng đối với tăng trưởng.
Phát biểu tại Diễn đàn "Thị trường tín dụng và những vấn đề kinh tế vĩ mô" mới đây, TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia cho biết, trong giai đoạn 2026 - 2030, với kịch bản tăng trưởng 10%, ước tính tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần huy động sẽ tương đương khoảng 39% GDP (khoảng 260 tỷ USD).
Theo ông, hiện nay, nền kinh tế vẫn dựa quá lớn vào vốn ngân hàng. Trong giai đoạn vừa qua, tín dụng chiếm hơn 50% các kênh dẫn vốn cho nền kinh tế, trong khi các kênh khác như chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp... còn nhỏ bé. Điều này dẫn tới tỷ lệ sử dụng đòn bẩy tài chính của nền kinh tế Việt Nam rất lớn, đồng nghĩa với việc rủi ro tăng cao.
Theo tính toán của chuyên gia, đến cuối năm 2025, tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam ước đạt 147% và nếu tín dụng tiếp tục tăng 16 - 17% giai đoạn tới thì đến năm 2030, tỷ lệ tín dụng/GDP sẽ đạt tới 180-185% GDP, thuộc nhóm quốc gia có tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao nhất thế giới.
Để giải bài toán vốn cho tăng trưởng, không thể "trông chờ" mãi vào ngân hàng, các chuyên gia cho rằng cần phát triển mạnh mẽ thị trường vốn để đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn, từ đó giảm áp lực lên nguồn vốn ngắn hạn của hệ thống ngân hàng, đảm bảo tăng trưởng bền vững.
TS. Cấn Văn Lực nhấn mạnh, giải pháp cấp bách là phải phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp và cổ phiếu để dẫn vốn trung và dài hạn. Cùng với đó là các giải pháp như: khai thác các nguồn tài chính bền vững, tài chính xanh, nâng hạng thị trường chứng khoán, xây dựng trung tâm tài chính quốc tế, phát triển thị trường tài sản số…
TS. Lê Xuân Sang cũng cho rằng, trong 5 - 10 năm tới, Việt Nam cần tập trung đa dạng hóa nguồn vốn thông qua thị trường chứng khoán, phát triển các tổ chức xếp hạng tín nhiệm và định hướng dòng vốn vào những lĩnh vực có lợi thế so sánh cao như năng lượng tái tạo, thương mại điện tử và hệ sinh thái ươm tạo công nghệ. Những lĩnh vực này có khả năng nâng cao năng suất mà ít tạo áp lực lạm phát, qua đó giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.
Về phía NHNN, trong thời gian qua, NHNN đã liên tục đổi mới công tác điều hành tăng trưởng tín dụng và triển khai lộ trình giảm dần, tiến tới gỡ bỏ biện pháp giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho các TCTD, có lộ trình thích hợp, đảm bảo các điều kiện cần thiết và từng bước thực hiện phù hợp với điều kiện thị trường. Về phía ngân hàng thương mại đã chủ động hơn trong việc lập kế hoạch, cơ cấu tín dụng, chú trọng chất lượng tín dụng hơn tăng trưởng tín dụng; theo đó hướng dòng vốn vào lĩnh vực ưu tiên, tập trung cho sản xuất kinh doanh, các chương trình tín dụng trọng điểm theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, qua đó góp phần tháo gỡ khó khăn về vốn cho doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế.