Đằng sau những cánh cửa đóng kín của các ngân hàng, công ty chứng khoán trên phố Wall, người ta luôn hoài nghi về một câu hỏi: Kiếm tiền quan trọng hơn, kiếm thật nhiều tiền quan trọng hơn nữa ngay cả nếu khách hàng phải chịu thiệt?

Câu hỏi này đang được báo giới Mỹ cực kỳ quan tâm sau vụ việc Greg Smith, một quan chức cấp cao tại Goldman Sachs, tuyên bố từ chức. Công chúng hoài nghi rằng có một thứ văn hóa đang tồn tại trên phố Wall, theo đó, quyền lợi của khách hàng không ở vị trí đầu tiên, cũng không ở vị trí thứ hai mà thậm chí bị coi rẻ nhất.

Ngay cả nhiều chuyên gia trong ngành ngân hàng Mỹ, dù không thống nhất với quyết định của Greg Smith, cũng khẳng định vụ việc đã khiến mối nghi ngờ của họ trở nên lớn hơn, đặc biệt nhớ lại những gì xảy ra ở thời kỳ đầu của khủng hoảng tài chính. Từ đó đến nay, hết tổ chức tài chính này đến tổ chức tài chính khác tuyên bố họ đặt quyền lợi của khách hàng lên đầu.

Trong buổi họp tại Goldman Sachs, ông Smith viết trong bản báo cáo: “Dường như chẳng có một phút nào người ta quan tâm đến việc sẽ giúp đỡ khách hàng như thế nào. Mọi chuyện chỉ thuần túy xoay quanh việc làm sao để lấy được nhiều tiền nhất từ khách hàng. Nếu bạn đến từ sao Hỏa và thử tham dự vào một trong những buổi họp của công ty, chắc chắn bạn sẽ tin rằng sự thành công hay tiền bạc của khách hàng không hề thuộc diện quan tâm của các nhà điều hành.”

Ông cảnh báo: “Những người chỉ quan tâm đến kiếm tiền sẽ không thể duy trì được công ty này, hoặc niềm tin của khách hàng trong thời gian dài hơn.”

Lời chỉ trích của ông Smith, hơn cả câu chuyện mà người biểu tình trong phong trào “Chiếm phố Wall” đưa ra, có thể khiến phố Wall khốn khổ. Người ta hẳn chưa thể quên vụ Ủy ban chứng khoán Mỹ kiện Goldman Sachs về tội gian dối vào tháng 4/2010, Goldman Sachs từng bán cho khách hàng số chứng khoán mà sau đó mất giá kinh khủng và chưa bao giờ cho khách hàng biết họ tính toán được rằng số chứng khoán đó sẽ xuống giá.

Phố Wall tất nhiên luôn tìm kiếm lợi nhuận, nhưng nếu sự tham lam của họ là sự tham lam dài hạn chứ không phải ngắn hạn, theo lời của Gus Levy, người từng điều hành Goldman Sachs thập niên 1960 và 1970. Khi sự tham lam là dài hạn, tiền được kiếm về nhưng vẫn đảm bảo quyền lợi của khách hàng chứ không phải móc túi khách hàng.

Không ít chuyên gia trên phố Wall từng khăng khăng rằng đã có khoảng thời gian sự tham lam trong dài hạn thực sự tồn tại, kể cả công khai và trong vòng bí mật. Thế nhưng trong khoảng 25 năm qua, mọi chuyện đã không còn như vậy nữa.

Thập niên 1980, khi hoạt động tự doanh phát triển mạnh, các công ty dùng tiền riêng để kinh doanh, tâm lý ngắn hạn trở nên thống trị. Ông Charles M. Elson, giáo sư tài chính doanh nghiệp tại đại học University of Delaware, nhận xét: “Trong một giao dịch, người ta có thể kiếm được nhiều tiền hơn.”

Sau đó mức thưởng cũng được điều chỉnh tăng. Trước năm 1990, mức lương thưởng của CEO các tổ chức tài chính tương đương với CEO của nhiều công ty niêm yết, hoặc thậm chí thấp hơn một chút.

Thế nhưng đến năm 2005, mức lương thưởng của CEO ngành tài chính cao gấp 2,5 lần so với bình thường, theo số liệu do giáo sư kinh tế Ariell Reshef thuộc đại học University of Virginia đưa ra. Nói chung, trong khoảng thời gian từ năm 1980 đến năm 2005, lương và thưởng trong ngành tài chính tăng cao hơn 70% so với mức lương trung bình ở nơi khác.

Ngọc Diệp

Theo Trí Thức Trẻ