Câu chuyện kinh doanh của ông là bài học thành công của một người nhìn được nhu cầu của thị trường.

“Doping” hợp pháp

* Sở hữu một trang trại nuôi yến quy mô lớn và một nhà máy chế biến yến chuyên nghiệp và hiện đại, ông được nhiều người gọi là “vua yến”. Danh hiệu này có làm ông thích thú?

- Trước khi là “vua yến” như mọi người gọi, tôi chỉ là một công chức bình thường trong ngành thể dục thể thao của tỉnh Ninh Thuận.

Có dịp tham dự một hội thảo về dinh dưỡng trong thể thao, tổ chức ở Malaysia, tôi mới biết, ở nước ngoài người ta gọi nước yến là thứ “doping” hợp pháp, mang lại nguồn dưỡng chất rất tốt cho cơ thể, nhất là với vận động viên.

Biết Việt Nam cũng có trữ lượng yến khá cao nên tôi dành thêm thời gian tham quan, học hỏi mô hình nuôi yến trong nhà của các nước lân cận như Malaysia, Indonesia... và thấy mình cũng có thể làm được như họ.

Vì muốn thử sức mình nên tôi quyết định nghỉ hẳn việc công chức, tập trung xây dựng trang trại nuôi yến. Hơn 7 năm trong nghề, nhìn lại những gì đã làm được, tôi thực sự không nghĩ mình xứng đáng với danh hiệu “vua yến” như nhiều người hay đùa.

Nhưng tôi cũng thấy tự hào khi là doanh nhân đầu tiên đưa việc nuôi yến, chế biến các sản phẩm từ yến... vào quy mô mở và bài bản ở Việt Nam.

* Thời điểm ông bắt tay vào kinh doanh yến, những người đi trước đã là một cái bóng rất lớn trên thương trường, ông không thấy lo ngại sao?

- Nếu so sánh, 7 năm hoạt động của Yến Việt chỉ là khoảng thời gian ngắn ngủi so với hàng trăm năm khai thác yến của một thương hiệu khác.

Tuy nhiên, “độ tuổi” không phải là yếu tố để cạnh tranh trên thương trường. Với xu thế mở cửa của những năm 2000, doanh nghiệp tư nhân có những lợi thế nhất định. Chúng tôi không có nhân sự gián tiếp, ứng xử linh hoạt, uyển chuyển và nhất là có khả năng quyết định rất nhanh.

Tất cả những điều này doanh nghiệp nhà nước hoàn toàn không có. Không cần xét đến việc cạnh tranh, thị trường yến cho đến bây giờ cung vẫn không đủ cầu. Tôi rất tự tin vào nghề vì biết thị trường là một khoảng đất trống màu mỡ, và mình có khả năng cung cấp.

* Thế nhưng ông lại bị dội một gáo nước lạnh...?

- Kinh doanh là con đường nở đầy hoa đúng là một ước mơ hão huyền. Tôi chỉ bất ngờ chứ không thất vọng khi tổ yến mình dày công nuôi đem ra thị trường lại được trả giá rất “bèo”, chưa bằng 1/3 giá thu mua từ các nơi khác.

Nhưng cũng nhờ thế tôi mới quyết tâm làm thương hiệu cho sản phẩm của mình vì đã hiểu ra sản xuất một mặt hàng không chỉ có chất lượng là đủ. Giá trị sản phẩm càng cao thì càng phải có thương hiệu để đảm bảo chất lượng sản phẩm.

Liệu cơm gắp mắm

* Với tần suất xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng thời gian qua, hình như ông không tiếc tiền cho các hoạt động quảng bá?

- Với ngành hàng tiêu dùng, khó nhất và cần nhất là làm thương hiệu. Chủ doanh nghiệp phải chọn kênh, chọn hình thức và cả thời điểm quảng bá sao cho thích hợp nhất mới mong hình ảnh sản phẩm và thương hiệu của mình đến được với công chúng.

Bình quân, Yến Việt chi khoảng 3 triệu USD/năm cho công tác quảng bá thương hiệu. Đây là giai đoạn chúng tôi đang muốn mở rộng phạm vi thương hiệu của Yến Việt, không chỉ quốc gia mà còn là quốc tế.

* Trong tình hình kinh tế không mấy sáng sủa như hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp chỉ dám đặt ra mục tiêu huề vốn, còn Yến Việt thì sao, thưa ông?

- Không chỉ là khó khăn, đây còn là giai đoạn sàng lọc doanh nghiệp một cách triệt để nhất. Với mức lãi suất vay ngân hàng lên đến 17 - 20% như hiện nay, doanh nghiệp phải lựa chọn một trong hai kịch bản.

Một là nằm im, cầm cự cho qua lúc khó khăn và chờ đợi thời cơ, bởi có kinh doanh cũng rất khó đạt lợi nhuận hơn lãi suất.

Kịch bản khác là nhân khi thị trường còn đang “thiếu sáng” thì mạnh dạn đầu tư, mở rộng doanh nghiệp để khi kinh tế “ấm” trở lại mình sẽ trở thành đơn vị vượt trội, đối thủ cạnh tranh không thể bắt kịp mình.

Tất nhiên, muốn chọn kịch bản thứ hai, doanh nghiệp phải có tiềm lực kinh tế rất lớn và song song đó là khả năng rủi ro cũng rất cao. Quả là rất khó quyết định, tôi đã băn khoăn rất nhiều và cuối cùng vẫn quyết định chọn đối mặt với rủi ro.

* Thẳng thắn nhìn nhận thì nếu không có sự đầu tư của VinaCapital, ông có dám chọn giải pháp đó?

- Nếu không có khoản đầu tư của Vinacapital, thú thật là tôi không dám mạnh tay mở rộng sản xuất như hiện nay, nhưng không phải vì vậy mà tôi chọn kịch bản nằm im.

Từ cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 đến nay, Nhà nước cũng đã triển khai những gói hỗ trợ sản xuất với lãi suất 4% trong 2 năm. Lợi dụng gói kích cầu này, tôi liều bắt tay vào xây dựng nhà máy trị giá 3 triệu USD. Sau 9 tháng, nhà máy bắt đầu cho ra sản phẩm.

Khoản đầu tư của Vinacapital cũng đã giúp tôi thanh toán hết nợ nần.

* Đã có nhiều trường hợp nhà đầu tư không đi đường dài với doanh nghiệp hoặc mở rộng thị phần và giữ quyền kiểm soát..., ông có lường đến khả năng này?

- Những câu chuyện không suôn sẻ trong đầu tư không hiếm, nhưng tôi không lo sợ. Chúng ta phải thay đổi tư duy. Đây là câu chuyện của hai nhóm lợi ích theo nguyên tắc đôi bên cùng có lợi và rủi ro là do một trong hai nhóm không thỏa mãn được nguyên tắc này.

Bản thân tôi, trong việc đầu tư của Vinacapital, ngoài tài chính còn có lợi về việc mở rộng thị phần do hưởng lợi từ phía khách hàng của Vinacapital.

* So với ngày trước chỉ kinh doanh bằng tiền của mình, nay kinh doanh thêm bằng tiền của người khác, liệu có khác biệt chút nào về mặt cảm giác không, thưa ông?

- Với tôi, tất cả những gì đầu tư vào Yến Việt đều là tiền của mình cả, không phân biệt. Tôi khá kỹ tính, mọi thứ đều phải tính toán chặt chẽ. Việc kinh doanh cũng vậy, phải liệu cơm mà gắp mắm nên khoản dư nợ cao nhất của tôi chỉ ở mức 30 tỷ đồng.

Khi làm việc với các quỹ đầu tư, tôi xác định nhà đầu tư không bao giờ hướng đến nhiều giá trị như doanh nghiệp, họ chỉ quan tâm đến lợi nhuận. Khi các kênh đầu tư dễ kiếm lời như chứng khoán, bất động sản... bị ứ đọng, các quỹ đầu tư có xu hướng đầu tư vào sản xuất nông nghiệp.

Vậy thì mình phải làm sao sinh lãi tốt nhất cho họ là có thể yên tâm về “tiền người” rồi. Chuyện đó đơn giản hơn nhiều so với “tiền mình”, bởi doanh nghiệp ngoài lợi nhuận còn có vai trò và trách nhiệm xã hội nữa.

Giấc mơ thương hiệu quốc gia

* Nghĩa là Yến Việt thể hiện trách nhiệm xã hội của mình bằng các hoạt động từ thiện?

- Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không gói gọn trong việc làm từ thiện. Tôi muốn đưa thương hiệu yến Việt Nam ra ngoài thế giới, một mục tiêu khá lớn mà nếu không hiểu, có thể nghĩ là tôi quá tham vọng.

Nhưng nếu tìm hiểu sẽ biết, yến Việt Nam được xem là có chất lượng cao nhất trên thế giới nhưng do chúng ta chưa biết làm thương hiệu quốc gia, chưa biết đưa sản phẩm kinh doanh ra đại chúng... nên tất cả chỉ nằm ở hai chữ tiềm năng.

Tôi đã gặp nhiều du khách đến Việt Nam muốn tìm mua yến, nhưng nguồn cung rất hạn chế.

Như vậy, vấn đề ở đây là phải làm sao để Việt Nam được biết đến như một “vựa” yến của thế giới, ai cần yến cũng sẽ nghĩ đến Việt Nam. Có xây dựng được một thương hiệu quốc gia như thế, các ngành khác, như du lịch chẳng hạn, cũng sẽ được hưởng lợi.

* Chất lượng đứng hàng đầu thế giới, nhưng theo ông, vì sao mà đến giờ yến Việt Nam vẫn chưa nổi tiếng?

- Nguyên nhân đầu tiên là ngành yến Việt Nam chưa có hiệp hội nên chưa có hoạt động quảng bá chung cho ngành. Quy mô sản xuất yến của nước ta cũng manh mún và nhỏ lẻ. Nhiều người nuôi yến theo phong trào vì thấy có thu nhập cao và trong ngắn hạn.

Trước đây cũng vậy và bây giờ cũng vậy. Bài học từ con tôm đã rất rõ: thấy nuôi tôm bán có giá, nhiều người đổ xô đào ao nuôi tôm, dẫn đến mất cân bằng sinh thái, rồi dịch bệnh ở con tôm ngày một nhiều. Tôi lo điều này cũng có thể xảy ra với ngành nuôi yến.

Tất cả những hạn chế đó khiến ngành yến chưa thể phát triển được. Thật vô lý khi nước mắm Việt Nam đóng nhãn mác Thái Lan, Trung Quốc... thì lại vào được Wal-mart, còn nước mắm Việt chính hiệu thì chỉ quanh quẩn ở sân nhà.

Tất cả là do chúng ta không có thương hiệu, không có chiến lược. Tôi thấy bức xúc lắm nhưng vẫn tin thương hiệu Việt sẽ có chỗ đứng trong tương lai.

* Đó chính là lý do ông mạnh dạn đề ra mục tiêu năm 2015 doanh thu sẽ cán mức 1.000 tỷ đồng?

- Tiềm năng là một chuyện, khai thác để tiềm năng không còn... tiềm năng cũng quan trọng không kém. Đã có trữ lượng yến dồi dào hơn ngày trước, tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta phải tạo ra các sản phẩm liên quan để phát triển chiều sâu của ngành yến.

Ví dụ như tạo thành các dòng sản phẩm chăm sóc sắc đẹp cho khách hàng nữ giới, dòng sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ em và người già... Yến Việt cũng vừa cho ra đời dòng sản phẩm tổ yến chưng sẵn có hương sen, hương dứa để làm mới và phong phú thêm sản phẩm của mình.

Kinh tế những năm qua khó khăn, phía trước vẫn còn khó khăn nhưng trong xã hội hiện nay, sức khỏe vẫn luôn được xem là quan trọng nhất. Cả thế giới cũng có nhu cầu này nên thị trường ngành yến rất rộng, chỉ sợ doanh nghiệp không có khả năng chinh phục.

Có một chi tiết nhỏ của thị trường nhưng đến bây giờ tôi mới ngẫm ra, trong những dịp lễ lạt, người châu Á, cụ thể là người Việt, rất thích tặng quà cho nhau nhưng thị trường quà tặng cũng giới hạn.

Trong khi đó, yến lại là sản phẩm phù hợp với mọi đối tượng. Những tín hiệu nhỏ như thế từ thị trường giúp tôi thấy tự tin với con đường mình đã chọn.

Giữ lộc của trời

* Để đạt được giấc mơ của mình, cụ thể ông sẽ phát triển Yến Việt như thế nào trong thời gian tới?

- Dựa trên lợi thế có sẵn là nhà máy đã hoạt động ổn định, tôi sẽ tiếp tục phát triển vùng nguyên liệu.

Ngoài tự nuôi yến trong trang trại và liên kết với bà con nông dân, cam kết đầu ra cho sản phẩm của họ để khuyến khích sản xuất, tôi đã đề xuất quy hoạch vùng nuôi chim yến ở ven sông Dinh, phường Tấn Tài, Ninh Thuận với quy mô khoảng 100 ha.

Đây sẽ là khu vực chúng tôi cùng hợp tác với nông dân nuôi yến, tạo nên một làng nghề yến cho khu vực. Làng nghề sẽ giải quyết được vấn đề việc làm và thu nhập cho nông dân, đảm bảo nguồn nguyên liệu cho Yến Việt.

* Vì lòng tự hào về bản địa mà ông lập làng nghề ở nơi chôn nhau cắt rốn?

- Phan Rang là vùng đất thuận lợi cho việc nuôi yến vì công nghiệp chưa phát triển, nguồn thức ăn cho yến dồi dào và chi phí đầu tư cũng không cao. Tôi không lấy yếu tố quê hương làm cơ sở cho việc đầu tư của mình.

Nông dân vùng nào ở Việt Nam cũng khổ cực vì thiếu trình độ, thiếu điều kiện... Tôi chỉ mong vẽ giúp cho nông dân, dù đó là nông dân ở bất cứ địa phương nào, một con đường để họ thoát nghèo. Khi tỷ lệ người nghèo ít đi thì mặt bằng xã hội mới cải thiện hơn được.

Tôi quan niệm hơi tâm linh một chút là khai thác và kinh doanh yến là làm giàu từ nguồn lộc của trời. Nếu tôi chỉ giữ lộc cho mình, không chia cho mọi người thì lộc cũng sẽ bỏ mình mà đi.

* Ông “hưởng lộc trời”, kinh doanh cũng phát đạt nhưng vẻ bề ngoài của ông rất bình thường: quần áo giản dị, dùng điện thoại thuộc dòng sản phẩm phổ thông. “Đại gia” như ông, sao lại hà khắc với bản thân như vậy?

- Không thương bản thân thì không thể yêu thương bất cứ người nào khác. Tôi không hà khắc với bản thân, nhưng cũng không đặt giá trị con người mình ở vẻ bề ngoài. Khi vẫn còn sức sáng tạo, vẫn duy trì công việc có thể nuôi được nhiều người... là tôi thấy mình có giá trị.

Đâu phải cứ đi xe “xịn”, xài điện thoại “siêu” thì trở thành đại gia. Tôi chưa là đại gia, nhưng ước mơ của tôi là sẽ trở thành một đại gia theo đúng nghĩa của nó là sở hữu một thương hiệu có mặt ở khắp thế giới, chứ không phải đại gia kiểu tự thỏa mãn với một vài công ty, kinh doanh không vượt được ra ngoài lãnh thổ.

Tôi biết, nếu thỏa mãn cảm xúc thì hạnh phúc sẽ rất ngắn. Chỉ khi thỏa mãn được lý tưởng thì hạnh phúc mới lâu dài.

* Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi này!

Theo PHƯƠNG QUYÊN

  Doanh nhân Sài Gòn